
81 năm kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đã trải qua một hành trình lịch sử đặc biệt: từ thân phận một nước thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập, thống nhất, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế; từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu từng bước vươn lên trở thành nền kinh tế có quy mô lớn, hội nhập sâu rộng với thế giới.
Những thành tựu ấy là kết tinh của lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sự hy sinh của nhiều thế hệ; đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định những thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Bước vào kỷ nguyên mới, lịch sử đặt ra yêu cầu cao hơn đối với Đảng: không chỉ giữ vững thành quả đã đạt được, mà phải tiếp tục nâng tầm năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền; dẫn dắt đất nước phát triển nhanh, bền vững, tự chủ, sáng tạo, thích ứng với những biến động sâu sắc của thời đại.
Những thắng lợi vĩ đại làm thay đổi vận mệnh dân tộc
Nhìn lại 81 năm qua, có thể khái quát những thắng lợi của cách mạng Việt Nam thành những bước ngoặt lớn gắn với những lựa chọn chiến lược đúng đắn của Đảng.
Thứ nhất, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa nền tảng của thời đại mới. Nhân dân Việt Nam từ thân phận người dân mất nước trở thành người làm chủ đất nước; một nhà nước của nhân dân được xác lập; nền độc lập dân tộc được tuyên bố trước thế giới.
Cách mạng Tháng Tám đồng thời thể hiện tài năng lãnh đạo và nghệ thuật chớp thời cơ của Đảng. Trong một thời gian ngắn, lực lượng cách mạng đã huy động được sức mạnh của toàn dân, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, chuyển từ khởi nghĩa từng phần sang tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trên phạm vi cả nước.

Thứ hai, thắng lợi của các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, chủ quyền và thống nhất đất nước. Sau năm 1945, chính quyền cách mạng phải đối diện với những thử thách đặc biệt nghiêm trọng. Đảng đã lãnh đạo nhân dân vừa xây dựng chế độ mới, vừa đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) đã tạo nên dấu mốc lịch sử, làm sụp đổ một mắt xích quan trọng của chủ nghĩa thực dân cũ, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Tiếp đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, quyết liệt. Với đường lối chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc, tiền tuyến lớn miền Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Đảng đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân tiến tới Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Thắng lợi ấy mở ra thời kỳ cả nước độc lập, thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một trong những thắng lợi có ý nghĩa vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ 20.
Thứ ba, thắng lợi trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc sau thống nhất. Đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh đã phải đối diện với nhiều khó khăn nghiêm trọng, trong đó có chiến tranh bảo vệ biên giới và những tác động phức tạp của môi trường quốc tế. Đảng đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả; giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng đất nước. Đây là minh chứng sinh động cho quan điểm nhất quán của Việt Nam: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ, trong đó bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc là nguyên tắc bất biến.
Thứ tư, thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới. Đại hội 6 năm 1986 đánh dấu bước ngoặt trong tư duy và đường lối phát triển đất nước. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mà là đổi mới phương thức, bước đi, cơ chế và tư duy để thực hiện mục tiêu phù hợp với thực tiễn.
Qua nhiều thập niên, Việt Nam đã đạt những thành tựu nổi bật trên nhiều lĩnh vực. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Việt Nam từ một nước nghèo, kém phát triển đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, có quan hệ kinh tế, thương mại với hầu hết các trung tâm kinh tế lớn của thế giới. Cùng với phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; môi trường hòa bình, ổn định được duy trì.

Thứ năm, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng được nâng cao. Từ một quốc gia bị bao vây, cấm vận, Việt Nam từng bước phá thế cô lập, mở rộng quan hệ đối ngoại, tham gia tích cực vào các cơ chế đa phương và trở thành thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế đã tạo dựng mạng lưới quan hệ đối tác ngày càng rộng, góp phần nâng cao vị thế quốc gia, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển.
Những thành tựu đó là minh chứng thuyết phục cho sức sống của đường lối đổi mới, đồng thời cho thấy năng lực thích ứng của một Đảng cách mạng trước những biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới.
Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng không phải là một nhận định mang tính cảm tính, mà trước hết được kiểm chứng bằng thực tiễn lịch sử. Trong những thời điểm bước ngoặt, Đảng đã thể hiện khả năng xác định đúng mục tiêu chiến lược, tập hợp lực lượng, tổ chức hành động và lựa chọn phương pháp đấu tranh phù hợp. Từ Cách mạng Tháng Tám đến các cuộc kháng chiến, từ thống nhất đất nước đến đổi mới và hội nhập, năng lực ấy được thể hiện ở những cấp độ khác nhau.
Điểm cốt lõi trong phương thức lãnh đạo của Đảng là đề ra đường lối đúng, tổ chức thực hiện có hiệu quả và luôn dựa vào Nhân dân. Đảng không đứng ngoài nhân dân mà gắn bó máu thịt với nhân dân; sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối liên hệ mật thiết với nhân dân.
Mọi chủ trương, đường lối chỉ có thể trở thành hiện thực khi được nhân dân đồng tình, ủng hộ và tham gia thực hiện.
Thực tiễn 81 năm cũng cho thấy một bài học sâu sắc: khi đường lối phù hợp với quy luật khách quan, đáp ứng lợi ích chính đáng của nhân dân và được tổ chức thực hiện quyết liệt, cách mạng có thể tạo ra những bước phát triển vượt qua dự báo thông thường. Ngược lại, những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý ở từng thời kỳ cũng đặt ra yêu cầu Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn.
Vì vậy, giữ vững vai trò lãnh đạo không đồng nghĩa với bảo thủ, trì trệ; trái lại, càng giữ vai trò lãnh đạo càng phải thường xuyên đổi mới tư duy, nâng cao năng lực và tự sửa mình.
Kỷ nguyên mới đòi hỏi một tầm vóc lãnh đạo mới
Kỷ nguyên mới đang mở ra với những cơ hội chưa từng có, đồng thời đặt ra những thách thức chưa từng có. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, chuyển đổi năng lượng, cạnh tranh công nghệ và sự dịch chuyển các chuỗi cung ứng toàn cầu đang làm thay đổi sâu sắc phương thức phát triển của mỗi quốc gia.
Trong khi đó, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột khu vực, biến đổi khí hậu, an ninh mạng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và nhiều vấn đề phi truyền thống ngày càng phức tạp.
Trong bối cảnh ấy, vai trò lãnh đạo của Đảng không những không giảm đi mà càng trở nên quan trọng, song nội hàm của sự lãnh đạo phải được nâng lên một tầm cao mới.
Trước hết, Đảng phải tiếp tục nâng cao năng lực hoạch định chiến lược, dự báo và kiến tạo phát triển. Không chỉ phản ứng trước những biến động, mà phải chủ động nhận diện xu thế, chuẩn bị từ sớm, từ xa, tạo dựng thời cơ và dẫn dắt đất nước tận dụng thời cơ.
Thứ hai, phải tiếp tục đổi mới tư duy phát triển. Nguồn lực lớn nhất của Việt Nam trong kỷ nguyên mới không chỉ là tài nguyên thiên nhiên mà trước hết là con người, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, thể chế và năng lực quản trị quốc gia.

Thứ ba, phải xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; phân cấp, phân quyền rõ ràng gắn với kiểm soát quyền lực; chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, phục vụ nhân dân và doanh nghiệp.
Thứ tư, phải đặc biệt coi trọng xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc. Một Đảng lãnh đạo đất nước trong điều kiện mới phải thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiểm soát quyền lực; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, trí tuệ, năng lực thực tiễn và tinh thần dấn thân vì lợi ích chung.
Thứ năm, phải tiếp tục củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển mà là chủ thể của công cuộc xây dựng đất nước. Mọi chủ trương phải hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia ngày càng thực chất vào đời sống chính trị, kinh tế, xã hội.
Tiếp nối lịch sử bằng khát vọng phát triển
81 năm là một chặng đường đủ dài để lịch sử đưa ra những kiểm chứng thuyết phục. Từ một nước thuộc địa trở thành quốc gia độc lập; từ chiến tranh đến hòa bình; từ chia cắt đến thống nhất; từ nghèo nàn, lạc hậu đến hội nhập và phát triển; từ vị thế bị bao vây đến một quốc gia có quan hệ quốc tế ngày càng rộng mở. Đó là hành trình đầy gian nan nhưng cũng rất đỗi vẻ vang.
Những thắng lợi ấy không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của biết bao hy sinh, cống hiến của các thế hệ người Việt Nam; là sức mạnh của lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời là kết quả của sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Nhưng lịch sử không phải là điểm tựa để bằng lòng. Thành tựu của 81 năm qua càng lớn thì trách nhiệm của hôm nay càng cao. Nếu thế hệ trước đã giành độc lập, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc bằng máu xương, thì thế hệ hôm nay phải bảo vệ và phát triển đất nước bằng trí tuệ, bản lĩnh, khoa học - công nghệ, năng lực quản trị và khát vọng cống hiến.
Trong kỷ nguyên mới, Đảng phải tiếp tục chứng minh vai trò tiên phong không chỉ bằng những chủ trương đúng, mà bằng những kết quả cụ thể trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển khoa học - công nghệ, củng cố quốc phòng - an ninh và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Lịch sử 81 năm là nguồn sức mạnh; vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố định hướng; nhân dân là chủ thể sáng tạo; khát vọng phát triển là động lực; độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là những phương thức quan trọng để đất nước tiến lên.
Từ mùa Thu năm 1945 đến kỷ nguyên mới hôm nay, một chân lý lớn càng được khẳng định: dân tộc Việt Nam luôn có đủ ý chí, bản lĩnh và sức mạnh để vượt qua thử thách khi biết phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kiên định mục tiêu chiến lược và có một lực lượng lãnh đạo đủ năng lực, bản lĩnh, trí tuệ và uy tín.
Tiếp nối những thắng lợi vĩ đại của 81 năm qua, nhiệm vụ lịch sử đặt lên vai Đảng và toàn dân tộc hôm nay là biến khát vọng Việt Nam hùng cường thành hiện thực; xây dựng một đất nước phát triển nhanh, bền vững, giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc; bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa; nâng cao vị thế và uy tín quốc gia.
Đó vừa là yêu cầu của thời đại, vừa là mệnh lệnh của lịch sử; đồng thời là lời cam kết của thế hệ hôm nay trước các thế hệ đã hy sinh vì độc lập, tự do và tương lai của dân tộc.
Thiếu tướng, PGS.TS Nguyễn Văn Sáu, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam


