BĐVN đã có cuộc phỏng vấn với ông Eddie Ahman, Tổng giám đốc Công ty TNHH Ericsson Việt Nam.

Vào năm 1993, công nghệ di động đang phổ biến là công nghệ gì? Ông bình luận như thế nào về việc Việt Nam đã lựa chọn GSM cho phát triển mạng di động tại thời điểm đó?

Mạng di động đầu tiên của Việt Nam (mạng Call-link- PV) được triển khai năm 1992 và hoạt động dựa trên nền công nghệ AMPS. Tuy nhiên, Việt Nam đã hết sức đúng đắn khi sớm tiếp cận công nghệ GSM. Tôi nghĩ rằng quyết định này dựa trên sự học hỏi từ các quốc gia đi trước. Năm 1993, trên thế giới mới có 32 mạng di động GSM hoạt động trên 18 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cũng trong năm đó, lần đầu tiên thiết bị cầm tay được giới thiệu thương mại.

Từ đó tới nay hệ thống GSM đã phát triển hết sức nhanh chóng, chứng tỏ đó là chuẩn di động phổ biến và hiệu quả, được sử dụng bởi hơn 1/3 dân số thế giới. Tính tới tháng 6/2008, đã có hơn 2 tỉ thuê bao GSM trên khắp 218 quốc gia, chiếm 86% thị trường di động toàn cầu. GSM còn tiếp tục tăng trưởng mạnh thời gian tới, trong vòng 12 tháng gần đây đã có thêm khoảng 400 triệu thuê bao mới.

Tôi cho rằng, Chính phủ Việt Nam đã sớm đánh giá tầm quan trọng của viễn thông và vai trò của nó với sự phát triển của xã hội. Việc đầu tư phát triển hệ thống GSM tại Việt Nam suốt những năm qua luôn tuân theo xu hướng phát triển của thế giới.

Ông có thể mô tả nội dung hợp tác giữa Ericsson và phía Việt Nam trong dự án xây dựng mạng di động tại TP. Hồ Chí Minh trong năm đầu?

Năm 1993, Ericsson và VMS MobiFone đã hợp tác xây dựng mạng di động đầu tiên tại TP. Hồ Chí Minh với 1 tổng đài MSC và vài chục trạm phát sóng BTS phủ sóng khu vực nội thị. Đây là mạng di động sử dụng công nghệ GSM đầu tiên tại Việt Nam, phục vụ vài nghìn thuê bao di động. Liên tục trong vòng 15 năm, với công nghệ và chất lượng thiết bị hàng đầu thế giới, Ericsson cùng VMS MobiFone đã xây dựng được một mạng lưới chất lượng hàng đầu Việt Nam (3 năm liền được công nhận là mạng có chất lượng tốt nhất), góp phần giúp MobiFone chiếm lĩnh vị trí dẫn đầu trong các nhà khai thác di động tại trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước. Ericsson tự hào với đội ngũ kỹ thuật nhiều kinh nghiệm đã hỗ trợ VMS MobiFone liên tục phát triển và chuẩn bị sẵn sàng cho những bước triển khai công nghệ di động thế hệ mới (NGN - Next Generation Nextwork) vào thời gian tới.

Khi triển khai mạng GSM đầu tiên của Việt Nam, ông có nghĩ rằng GSM sẽ thống trị thế giới như hiện nay hay không?

Chúng tôi đã dự đoán được điều đó vì chúng tôi luôn đồng hành với các nhà khai thác mạng ở khắp các lục địa trên thế giới, trải nghiệm những tiến trình phát triển của công nghệ. Kể từ khi Ericsson lắp đặt trạm phát sóng đầu tiên vào năm 1991 cho tập đoàn Mannesmann ở Đức, Ericsson đã nhanh chóng giữ vai trò đứng đầu thị trường trong việc cung cấp thiết bị công nghệ GSM. GSM có chỗ đứng vững chắc tại các thị trường phát triển và đang phát triển bởi ưu thế về chi phí, sự đa dạng về chủng loại thiết bị, khả năng tích hợp và nâng cấp lên 3G.

Sau 15 năm Việt Nam phát triển mạng GSM, điều gì làm ông ấn tượng nhất?

Chúng tôi ấn tượng về cách nhìn chiến lược và phương pháp quản lý linh hoạt của các nhà khai thác khi họ vận hành dựa trên sự hiểu biết sâu sắc những nhu cầu thực sự của thị trường và hiện trạng cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Về phía người sử dụng, họ nhanh chóng theo kịp xu thế phát triển của công nghệ, đẩy nhanh bước phát triển nhanh chóng của mạng GSM, khiến các nhà khai thác phải không ngừng đưa ra những giải pháp và dịch vụ mới đa dạng. Đặc biệt là sự tăng trưởng ấn tượng về số lượng thuê bao mới trong 2 - 3 năm gần đây. Điều này đã giúp Việt Nam được xếp vào danh sách những quốc gia có thị trường viễn thông tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới.

Theo dự báo của ông, thông tin di động của Việt Nam trong vài năm tới sẽ ra sao, đặc biệt khi Việt Nam triển khai 3G?

Về phía các nhà khai thác, họ sẽ tiếp tục mở rộng và nâng cấp mạng 2G. Lợi thế triển khai mạng 3G thuộc về những nhà khai thác GSM vì họ có thể tái sử dụng cơ sở hạ tầng đầu tư để mở rộng. Do đó, mạng 3G có điều kiện triển khai nhanh chóng. Sự cạnh tranh ngày càng lớn giữa các nhà khai thác lâu năm và nhà khai thác mới dẫn đến yêu cầu cần kết hợp với nhau và số lượng nhà khai thác trên thị trường giảm đi.

Với sự có mặt của 3G, Internet sẽ dần mang tính di động nhiều hơn, người tiêu dùng được cung cấp các dịch vụ mới và những dịch vụ về truyền thông đa phương tiện. Thói quen của người tiêu dùng thay đổi nhiều bởi sự tác động của thế hệ trẻ khi sử dụng di động. Mạng di động phát triển hướng tới phục vụ cho vùng nông thôn nhằm thu hẹp khoảng cách số. Mục tiêu vì một xã hội phát triển bền vững đặt ra yêu cầu ngày càng lớn về tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả khi vận hành các mạng. Một minh chứng sống động là việc sử dụng năng lượng mặt trời, gió và nhiên liệu sinh học thay thế cho điện năng khi vận hành các trạm thu phát. Ngoài ra, do công nghệ ngày càng được cải tiến, lượng điện tiêu thụ sẽ giảm đi so với vài năm trước đây.

Năm 2008 cũng đánh dấu mốc 15 năm Ericsson có mặt tại Việt Nam. Vậy thị trường này nằm ở vị trí nào trong chiến lược phát triển toàn cầu của Ericsson?

Việt Nam là một trong những thị trường viễn thông phát triển nhanh nhất trên thế giới nên đóng vai trò quan trọng đối với Ericsson. Suốt 15 năm qua, chúng tôi luôn tích cực đóng góp và không ngừng tăng trưởng, đặc biệt là sự thành lập Công ty TNHH Ericsson Việt Nam. Ericsson liên tục đầu tư vào Việt Nam thông qua đầu tư vào con người, tăng số lượng nhân viên người Việt (hiện có 210 nhân viên).

Yếu tố bền vững là đặc điểm nổi bật của chúng tôi khi đầu tư vào các thị trường. Chưa bao giờ Ericsson rời khỏi một thị trường nào mà Ericsson đã từng đặt chân. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Chúng tôi hiện diện ở đây để gắn bó và không ngừng phát triển trên mọi khía cạnh. Mục tiêu của chúng tôi là giữ vững vị trí là một công ty truyền thông hàng đầu tại Việt Nam.

Cảm ơn ông!

Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 72 ra ngày 15/8/2008