![]() |
Tổ chức lực lượng thu cước Internet đã từng là bài toán nan giải với các ISP Việt Nam. Ảnh: Thanh Hải (Ảnh chỉ mang tính minh họa). |
Bài toán thu cước của các ISP
ICTnews - Tổ chức tốt việc thu cước sử dụng của khách hàng hóa ra lại là một bài toán không hề đơn giản của các các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP)
Ai có thể làm ISP?
Theo quy chế tạm thời về cung cấp, khai thác và sử dụng Internet được quy định bởi Nghị định 21/CP ban hành tháng 3/1997, để làm nhà cung cấp dịch vụ Internet thì ngoài các điều kiện về kỹ thuật, đơn vị xin làm ISP phải là doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp do nhà nước chiếm cổ phần chi phối. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ. Theo một chuyên viên phụ trách quan hệ khách hàng của một doanh nghiệp CNTT không tham gia thị trường này, điều quyết định là phải giải quyết được bài toán thu cước sử dụng của khách hàng. Đây quả thực là một vấn đề không đơn giản thời ấy và thậm chí chuyên viên này còn nói vui rằng chỉ có 4 ngành có thể làm ISP là bưu điện, điện lực, nước sạch và vệ sinh môi trường (!) vì họ có được một bộ máy rất chuyên nghiệp chuyên làm công việc này cùng sự tin cậy của khách hàng qua hàng chục năm.
Ở thời điểm đó, Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) và Công ty Viễn thông Điện lực (EVN Telecom) chưa hề hiện diện trên thị trường Internet và có thể nói chỉ Công ty Điện toán & Truyền số liệu (VDC) là hoàn toàn có thể yên tâm về chuyện này bởi bài toán thu tiền cước của họ được thực hiện thông qua các bưu điện các địa phương cùng với dịch vụ thu cước điện thoại. Công ty Cổ phần Dịch vụ BCVT Sài Gòn (Saigon Postel) cũng có thể tương đối yên tâm vì họ tất yếu phải tổ chức được đội ngũ nhân viên thu cước điện thoại cố định phát triển tại TP. HCM và chính đội ngũ này cũng có trách nhiệm phải thu cước với các khách hàng sử dụng Internet (mạng Saigon Net).
Những khó khăn trong chuyện này có lẽ là điều mà hai nhà cung cấp FPT và Netnam phải có bài toán để giải quyết. Nếu không, với số lượng khách hàng phát triển được càng lớn thì việc tổ chức thu cước sử dụng sẽ lại càng là vấn đề và nếu không tổ chức quản lý tốt thì có thể dẫn đến thất thu. Theo nguyên tắc, các khách hàng nợ đọng cước phí sử dụng sẽ bị cắt hợp đồng nhưng họ hoàn toàn vẫn có thể sử dụng tiếp nếu chuyển sang đăng ký với một ISP khác. Với FPT, chắc chắn đó là một bài toán phải tìm ra cách làm phù hợp bên cạnh việc tổ chức bộ máy nhân viên thu cước. Trong khi đó Netnam với tư cách là một ISP không chính thức do chưa phải là doanh nghiệp (tháng 5/1999, Netnam mới trở thành doanh nghiệp theo quy chế riêng của cơ quan trực thuộc viện nghiên cứu) thì đây là cả một vấn đề nan giải vì cả bộ máy của họ khi đó chẳng có ai chuyên trách cho công việc thu cước phí của khách hàng.
Bài toán phát hành thẻ cào
Sau gần 2 năm phát triển thị trường theo cách thức thu tiền trực tiếp của khách hàng tận nhà bên cạnh việc khách hàng tự nguyện nộp tiền tại trụ sở, FPT đã đi tiên phong với việc phát hành thẻ trả trước (thẻ cào) với các mệnh giá từ 100.000 – 500.000 đồng. Theo đó, khách hàng thay vì phải nộp tiền hàng tháng thì họ sẽ nạp mã số của thẻ và được sử dụng Internet quay số điện thoại (dial up) với mức giá cước hạ hơn so với thuê bao trả sau. Nhờ cách làm này, FPT đã giải quyết được về cơ bản bài toán phát triển thị trường trong điều kiện không tổ chức kịp. Tiếp sau đó, không chỉ có Netnam mà ngay cả VDC và Saigon Net cũng phát triển thuê bao theo hình thức này.
Chính sự phát triển của Internet theo hình thức “thẻ cào” đã tạo nên một thị trường khá sôi động tại Hà Nội và TP. HCM. Thậm chí đã có hẳn những doanh nghiệp đứng ra làm nhà thầu đầu mối để phát hành các loại thẻ cào của FPT, VDC, Saigon Net. Chính các doanh nghiệp này đã rất chủ động phát hành thẻ cào Internet đến mọi đối tượng có nhu cầu sử dụng Internet là cán bộ, công chức, nhân viên văn phòng, doanh nghiệp… và được biết, chính các chủ dịch vụ Internet khi đó lại là đối tượng tiêu thụ nhiều thẻ cào nhất không chỉ cho khách hàng mà cho nhu cầu của chính họ. Tuy nhiên, có một thực tế là không ít ISP đã đẩy mạnh phát hành thẻ trả trước không tương xứng với việc nâng cấp hạ tầng của mình dẫn tới việc đã có nhiều khách hàng phải kêu ca về chất lượng Internet. Song điều đó cũng chỉ tồn tại không lâu khi dịch vụ Internet chuyển sang một chương mới với dịch vụ Internet tốc độ cao (ADSL) thay thế cho Internet dial up.
Kể từ năm 2004, các ISP phải chuyển dần sang cung cấp ADSL và chỉ khi chủ động được về hạ tầng thì mới có thể làm được. Sự chủ động về hạ tầng cũng đồng nghĩa với việc phải tổ chức được đội ngũ nhân viên thu cước tận nhà khách hàng bên cạnh việc khách hàng có thể chi trả tại văn phòng của họ hoặc chi trả thông qua tài khoản. Tuy nhiên, dẫu sao thì việc thu cước sử dụng Internet theo hình thức phát hành thẻ cào cũng là những dấu ấn của một giai đoạn trong lịch sử Internet Việt Nam và trong giai đoạn đó, hình thức thẻ cào Internet trong một chừng mực nào đó gần như không khác gì cách thức bán hàng của các mạng ĐTDĐ đã làm.
Đức Hoàng
- Toàn bộ bài báo được đăng trên báo Bưu Điện Việt Nam số 92
