Nhà có một người điên đã khổ, nhưng ở thôn nghèo Diên Trường (Thị trấn Thuận An, TT Huế), có một người đàn ông đã ngoài thất thập lại phải oằn mình trông chừng đến 2 đứa con tâm thần và một đứa cháu ngoại chưa đầy hai tuổi còn đang bi bô tập nói.
Đứa cháu ấy là kết quả sau một (hoặc những) lần đứa con gái ngu ngơ của ông bị kẻ xấu giở trò đồi bại. Đau lòng hơn, ông không thể biết kẻ đó là ai mà đi "bắt đền" cho con, cho cháu.
![]() |
| Cô gái tâm thần và đứa con của mình. |
Men theo sự chỉ dẫn của một bà cụ đi đường, chúng tôi tìm
được nhà ông Trần Hữu Dục (SN 1945, ở thôn Diên Trường, Thị trấn Thuận An, TT
Huế) - người đàn ông đang mang tấn bi kịch nuôi hai con ngây dại và đứa cháu
ngoại ngoài "kế hoạch" hằn trĩu cả thân hình..
Thấy chúng tôi đánh tiếng khi bước vào nhà, ông Dục đang lúi húi chuẩn bị nấu
cơm liền chạy ra với vẻ mặt ngạc nhiên vì "hiếm lắm nhà mới có khách". Đúng như
hình dung của chúng tôi, ông Dục có thân hình khô đét, gầy guộc, đen nhẻm.
Lão nông hom hem kể về "lịch làm việc" của mình: sau một ngày đi bắt ốc về nhà, ông lại tất bật chuẩn bị cơm nước cho hai đứa con thần kinh không ổn định và cháu ngoại gần 2 tuổi.
Ông cười đau đớn: "Nói cơm nước vậy
thôi, chứ cả ngày chúng nó mới được ăn một gói mỳ tôm chú ạ!". Đôi bàn tay run
run, người lả đi vì "dạ dày trong veo" từ sáng đến chiều, ông Dục lại lập cập
nấu nhanh để có miếng ăn vào bụng.
Nếu có người "sướng từ trong trứng nước", thì ông Dục lại khổ từ thuở còn thơ.
Cha mất sớm, nên từ thuở lên 9 lên 10, ông Dục đã phải trôi dạt đất khách quê
người để mưu sinh, kiếm ăn qua ngày.
Lo miếng ăn cho bản thân mình đã khó trăm
đường, ông vẫn phải chắt chiu từng đồng gửi về cho mẹ nuôi hai đứa em nhỏ ở quê
nhà. Chật vật với từng miếng cơm manh áo, với từng bữa đói, bữa no, nên mãi đến
năm 41 tuổi ông mới nghĩ đến chuyện lập gia đình...
Nhấp ngụm nước chè đắng chát, khuôn mặt ông Dục nhăn nhúm lại như muốn chắt nốt
những giọt nước mắt đau khổ cuối cùng ra để làm dịu bớt lòng mình. Ông nhớ lại:
"Tôi xa quê vào Sài Gòn khi còn bé lắm, lúc đó mẹ tôi mới sinh em gái xong, chưa
làm được gì nên gia đình thường đói ăn, đứt bữa.
Họ hàng ở xa không cậy nhờ được gì, mẹ tôi đành gửi tôi vào ở nhà một người quen ở Sài Gòn, nhưng chừng 1 năm, vì không chịu nỗi sự hà khắc của người bà con nên tôi bỏ đi lang thang làm thuê, làm mướn cho người ta.
Đến năm 41 tuổi, tôi mới về nhà và cưới vợ. Tưởng có gia đình thì sẽ bớt nỗi gian nan, nào ngờ đó lại tiếp tục là những chuỗi ngày long đong của tôi!".
![]() |
| Cha con ông Dục trong ngôi nhà của mình |
Ông Dục trầm buồn kể tiếp chuyện đời mình. Ngày ấy, ông có quen một người đàn bà cùng quê, người đàn bà ấy cũng vì nghèo khó nên quá lứa nhỡ thì như ông.
Chính
sự cô đơn trên đất khách đã mang hai người đến gần nhau và cùng nhau kết nghĩa
trăm năm. Sau 2 năm sống với nhau mà không cưới cheo gì cũng bởi quá nghèo, họ
trở về quê ở cùng người mẹ già cô quạnh với niềm tin "thuận vợ thuận chồng tát
biển đông cũng cạn".
Hai vợ chồng sống êm ấm, hạnh phúc với nhau chừng 4 năm, sau một cơn bạo bệnh,
người vợ thảo hiền đã bỏ ông, bỏ lại người mẹ già và hai mụn con thơ dại ra đi.
Vợ mất, thế là gánh nặng gia đình đổ hết xuống đôi vai ông, bòn rút của ông tất cả sức lực còn lại. Nỗi lo cơm, áo, gạo, tiền bắt buộc ông phải làm việc cật lực, từ phụ hồ, cuốc đất đến bốc vác để có tiền nuôi người mẹ già và hai đứa con thơ mới biết đi chập chững.
"Hồi ấy, lúc mẹ của các cháu mất, gia đình tôi hết sức khó khăn. Dù tôi đã cố gắng đi làm thuê từ sáng sớm đến đêm khuya mới về nhưng cái đói vẫn không buông tha.
Gia đình tôi nhiều khi cả ngày chỉ ăn ốc và rau muống
dại để cầm cố mỗi khi bão lũ đến, còn cả tháng chỉ biết mùi cơm được đôi lần
thôi. Hai đứa con của tôi vì thế nên thường đau ốm. Những lúc thấy chúng nó khóc
vì đói, tôi đứt từng khúc ruột, nhưng vì sức cùng lực kiệt nên tôi cũng đành bất
lực!".
Ông Dục nhớ lại, tuy sinh ra trong lúc khó khăn, thiếu thốn nhưng hai đứa con
của ông chóng lớn như ai. Hai đứa con ông vô cùng hiếu thảo, biết thương cha,
kính bà.
Ngày ngày chúng vẫn đi làm thuê kiếm tiền phụ bớt gánh nặng cho người
cha già yếu của mình. Rồi bỗng dưng một ngày ập đến...
Hai con bỗng mắc bệnh giữa tuổi xuân thì
Đó là một ngày đầu tháng 10 năm 2010, bi kịch giáng xuống gia đình ông. Hai đứa
con đang tuổi xuân thì của ông bỗng dưng nổi…điên.
Đứa con trai đầu, Trần Hữu Tùng (SN 1984) sau một hôm đi làm thuê về tự nhiên thành lẩn thẩn, đêm quên ngủ ngày quên ăn, chỉ khóc lóc chửi bới lung tung và thường hay bỏ đi lang thang giữa đêm khuya. Tưởng đâu con mình chỉ bị vài ngày, ở nhà ăn uống bồi dưỡng rồi sẽ khỏi, nào ngờ bệnh tình của Tùng ngày càng nặng thêm.
Suốt ngày Tùng đập phá đồ đạc, đá đấm thình thịch vào vách nhà rồi chửi bới, khóc rên thê thiết... Thương con bệnh tật, ông chạy vạy mượn tiền hàng xóm để đưa Tùng đi Bệnh viện Tâm thần Huế chữa trị.
Nửa tháng trôi
qua, bệnh vẫn "sừng sững" trong khi đó số tiền nhỏ nhoi vay mượn được đã bay
vèo. Ông đành đắng lòng đưa Tùng về nhà để trông nom, săn sóc. Sau 2 tháng thuốc
thang tại nhà không quản ngại, Tùng thuyên giảm bệnh, dù chưa khỏi hẳn.
Nhưng chỉ cần thế thôi, niềm hy vọng đứa con sẽ lành bệnh và trở lại bình thường
như ngày trước lại được nhen lên. Nhưng nào ngờ, "nối gót" anh trai còn ngây
dại, cô em gái Trần Thị Điệp (SN 1986) cũng bất thường kêu gào, xé quần áo rồi
chạy lang thang ngoài đường.
Có ngày Điệp đi không về nhà, ông Dục phải cuống
cuồng tìm con gái trong đêm tối mù mịt. Hình ảnh người cha già gầy còm bước thấp
bước cao, ngã lên, trượt xuống trong đêm đã quá quen thuộc nhưng vẫn khiến người
dân nơi đây đắng lòng thương xót.
"Đời tôi giờ chẳng còn chi hết. Con cái thế này thì còn chỗ mô để đau nữa chú
hè. Nghĩ ông trời cũng thật buồn cười, người ta từng này tuổi được nương tựa vào
con, được an nhàn vui thú tuổi già. Còn tôi thì ngày nào cũng còng lưng ra đồng
bắt cua bắt ốc hay đi làm thuê để nuôi chúng nó. Nhưng mà, tôi còn sống ngày
nào, còn cơm bưng nước rót cho hai đứa được! Chỉ sợ mấy bữa nữa mô tôi già quá,
tôi chết đi, ai lo cho tụi nó đây hở chú?" - ông chua chát bảo, và trên khuôn
mặt gầy guộc của ông lã chã hai hàng nước mắt.
Nhưng dù ông còn đó, việc nuôi nấng hai đứa con tâm thần và tấm thân già của
chính ông cũng lay lắt như đèn trước gió. Đã hơn hai tháng nay, mặc trời lạnh,
mặc mưa lũ về, ông vẫn phải cắn răng trầm mình dưới dòng nước buốt giá để mò cua
bắt ốc.
Sức già kiệt quệ, ông Dục cứ ho liên miên nên không làm lụng được gì nhiều. Việc làm thuê càng khó hơn, vì chẳng ai dại bỏ tiền thuê một thân già ốm yếu làm lụng cho mình trong khi trai tráng, thanh niên ở thôn rất nhiều.
Thế nên mọi chi tiêu ăn uống trong gia đình ông chủ yếu trông chờ vào sự giúp đỡ
của bà con lối xóm, trông chờ vào 540 ngàn đồng trợ cấp bệnh tật của hai đứa con
ông.
Ấy vậy mà cứ ba, bốn bữa, Tùng và Điệp lại trở bệnh một lần. Đứa thì xé rách áo
quần, kêu gào, khóc lóc thảm thiết. Đứa rượt đuổi đòi đánh ông.
Những lúc con
trở bệnh, ông chỉ biết khóa cửa nhà thật chặt rồi lủi thủi trốn sau vách, đứng
nhìn chúng qua khe cửa sổ mà những giọt nước mắt xót xa cứ lăn dài trên đôi má
xương xẩu. Tiếng la hét, quát tháo của hai đứa trong căn nhà ọp ẹp cứ vọng ra
làm lòng ông đau như ngàn dao cứa…
Khi chúng tôi đến thăm, Tùng đã biệt tích một tuần nay, ông Dục đi tìm khắp thôn
xóm nhưng chẳng biết Tùng đi đâu. Nhìn thấy cảnh tượng trên ai mà chẳng chạnh
lòng thương xót cho hoàn cảnh tội nghiệp, cho cái số phận trớ trêu của gia đình
ông.
Con gái tâm thần bị lạm dụng, chẳng biết ai mà "bắt đền"
Nhưng họa cứ nối họa, ông già gần đất xa trời vẫn phải chịu thêm một cú giáng
mạnh tới không tưởng nữa. Ấy là chuyện con gái ông bỗng có thai. Hay tin, ông
nằm liệt giường, ốm li bì trong suốt một tuần liền.
Ông Dục đau đớn nhớ lại: "Biết nó (Điệp - PV) có thai trong khi bị bệnh tâm thần, tôi choáng váng quá. Cứ nghĩ mãi cái chuyện làm sao nó lại có thai mà đau đớn.
Thân nó còn chưa lo được huống hồ đèo bòng thêm một đứa con. Hôm đó tôi ngất lịm mãi từ chiều đến đêm mới tỉnh.
Tỉnh dậy, tôi thấy bà con
làng xóm đến thăm, động viên, còn con Điệp thì ngồi ôm bụng dưới xó bếp nói cười
nhảm nhí một mình. Thấy nó như rứa, thật tôi muốn chết quách đi cho xong. Răng
mà đời tréo ngoe oái oăm rứa chú hè!".
Ngày ấy, khi bà con lối xóm biết tin Điệp có thai, có người độc mồm độc miệng
bảo ông ăn ở không có đức nên mới bị trời quả báo đến thế, có người lại khuyên
ông đem Điệp lên bệnh viện để phá thai.
Nhưng ông gạt đi tất cả, ông vẫn quyết
giữ giọt máu của con, đứa cháu tội nghiệp từ trong trứng nước của mình. Cũng vì
thế, có người lại bảo ông Dục đã dở hơi, đã phát điên theo hai đứa con của mình
rồi.
Sau chín tháng mười ngày, Điệp cũng lâm bồn và sinh ra đứa con kháu khỉnh. Hỏi
ông Dục về cha của đứa trẻ, ông lắc đầu buồn bã nói: "Nào có biết ai là cha của
đứa bé này chi mô. Tôi suốt ngày ra đồng ra bãi bắt cua bắt ốc về kiếm gạo ăn, ở
nhà chẳng có ai trông chừng con gái nữa. Nó cứ mỗi lần lên cơn lại xé quần xé áo
đi lang thang mà chốn này lại đông người qua lại, nên mới bị thế kia.
Lúc nó có thai, tôi thấy biểu hiện lạ hỏi nó thì nó chỉ cười hềnh hệch. Biết là của ai được hả các anh? Thôi thì cháu mình, mình nuôi vậy! Mẹ nó sinh con mà không biết con ai, không biết cho con bú. Thân già như tôi đành phải thay nó làm nghĩa vụ của một người mẹ vậy!" ông Dục chua chát kể.
Đang
chuyện, dường như cố ngăn nước mắt chảy tràn trước mặt chúng tôi, ông Dục đưa
mắt ngấn nước nhìn đứa con gái ngớ ngẩn, đang phơi đầu trần ngoài sân giữa trời
mưa gió của mình. Ông quát to để con gái chạy vào hiên nhà, nhưng cô vẫn cười
hềnh hệch vô thức, trên tay vẫn cầm quả ổi xanh gặm lấy gặm để.
Thương con, yêu cháu vô bờ, nhưng ông Dục lại thêm "tơi tả" vì thực tế cơm áo
gạo tiền: thêm người là thêm miệng ăn, thêm cái chi tiêu. Cuộc sống của ba cha
con ông vốn đã rất khổ sở, nay lại càng túng thiếu, khốn khổ đủ bề.
Cái đói, cái
nghèo hằn lên số phận nên từ sáng đến tối ông Dục phải lăn lộn kiếm tiền đong
từng chút gạo để nuôi con thần kinh, nuôi đứa cháu ngoại ngây thơ chưa biết về
số phận khổn khổ của mình.
"Ông Dục khổ lắm! Được hai đứa con thì đều ngớ ngẩn cả hai. Đứa con gái không
biết gì, lại bị kẻ xấu hãm hiếp. Già yếu rồi mà vẫn phải thức khuya dậy sớm ra
đồng nuôi mấy đứa con lớn tồng ngồng mà chẳng biết gì.
Ông ấy ho triền miên cả
tháng nay, già cả rồi mà một đồng một cắc mua thuốc uống cũng không có nữa. Thật
tội!", bà Mai, hàng xóm ông Dục chia sẻ. Quả thực, nhiều hôm vét sạch cả hũ
chẳng có nổi mấy hạt gạo, nấu được bao nhiêu là ông nhường hết cơm cho con cháu,
còn mình chỉ cạo ít cháy bám đáy nồi chan với nước canh lõng bõng ăn qua bữa.
Gắng gượng để sống
Nhưng cố đến mấy cũng chẳng đi ngược được quy luật đất trời, ở cái tuổi thất
thập, ông Dục không còn đủ sức làm lụng công việc đồng áng nặng nhọc nữa. Sức
cũng chỉ như đèn dầu trước gió, chẳng biết tắt lúc nào.
Dẫu vậy, ngày ngày, ông
vẫn lân la tới các chợ để nhận làm những việc vặt vãnh kiếm chục ngàn lẻ về nuôi
con cháu. "Nhiều khi thấy khổ tâm lắm, cầu trời khấn phật cho tôi khỏe thêm mấy
năm nữa để có thể nuôi đứa cháu lớn thêm, chứ giờ cháu nó mới gần 2 tuổi. Tôi
chết thì tội cháu quá chú ơi!".
Rồi ông nghẹn ngào kể tiếp: "Mỗi ngày tôi chỉ dám tiêu 10 ngàn, còn dư được đồng
nào là chắt bóp đề phòng lúc ốm đau.Tám tháng nay rồi, tôi cứ vay mượn để mua
sữa cho cháu. Nhiều người bảo tôi mang cho cháu đi nhưng đứa trẻ này vô tội.
Rủi tôi cho cháu đi, sau này lỡ có việc gì thì đến chết tôi vẫn không khỏi ân hận, sao mà nhắm mắt xuôi tay.
Thôi thì nó có cha đấy mà cũng như trẻ mồ côi. Mẹ nó thì điên dại thường bỏ nhà đi lang thang. Tôi cố chăm cho nó được chừng mô hay chừng ấy! Tôi còn sức bao nhiêu thì sẽ chăm cháu tôi bấy nhiêu chú ạ".
![]() |
| Ông Dục phải nuốt nỗi đau để chăm cháu, nuôi con |
Cuộc sống mưu sinh tạm bợ từng ngày, đói rét triền miên, thiếu ăn nên trông ai trong nhà ông cũng gầy gò hốc hác. Thi thoảng, cả 4 cha con ông cháu lại lang thang khắp chợ để xin ăn, nhặt nhạnh thêm ve chai về bán kiếm tiền mua bát gạo, bát muối.
Nhưng có khi, ba bốn hôm chẳng ai cho lấy một bát cơm để lót dạ, cả gia đình 4 cha con, ông cháu lại phải uống nước lã, ôm nhau nằm ngủ để quên đi cái đói.
Hôm nào ông không dậy đi làm được, hôm cả nhà lại nhịn ăn. Thương con, cháu, thi thoảng ông lê tấm thân già lên đầu ngõ xin hàng cơm ít cháy chan canh ăn tạm. Ngày khỏe đi kiếm được, tối về cha con, ông cháu mới có cơm, còn ban ngày thì cả nhà cùng nhịn.
"Tội nghiệp nhất là đứa nhỏ. Nhiều hôm
chẳng có gì để lót vào bụng, đêm nằm ngủ nó cứ trằn trọc thao thức rồi khóc òa.
Nhìn chúng nó mà nước mắt tôi cứ trào ra, tội nghiệp lắm!", bà Mai hàng xóm nói
như khóc.
Sống trong cảnh bần hàn, cháu ông, đứa trẻ đã gần 2 tuổi mà ốm hom hem, thi
thoảng lại cứ khóc thé lên vì đói sữa. Ôm đứa cháu vào lòng, ông Dục nở nụ cười
hiếm hoi dù vẫn thấm đẫm buồn: "Tên cháu là Nguyễn Văn Hinh. Vì mẹ cháu đau ốm
thế, nên Hinh không uống được sữa mẹ. Cứ mỗi tuần tôi lại phải trích ra 100 ngàn
đồng trong số tiền mà bà con giúp đỡ và một ít tiền từ việc làm thuê của mình để
mua sữa, mua cháo bồi bổ cho cháu Hinh đấy!"
Lúc trò chuyện với tôi, ông Dục bảo Điệp vừa từ Bệnh viện Tâm
thần Huế về nhà được hai tuần. Nhưng cô vẫn khờ khạo hoàn khờ khạo, cứ ngồi lu
khu ở góc giường cười nói một mình khi thấy người lạ. Có lẽ trong một góc nhỏ bé
nào đó của trí nhớ mình, cô vẫn còn sợ hãi cái khoảnh khắc bị cưỡng bức ngày
nào.
Rồi lại trong làn nước mắt, ông Dục ước nguyện: "Giờ tôi chỉ mong nó đi trước
tôi. Chứ giờ tôi già không biết sống được bao lâu, chết rồi ai lo được cho mẹ
con nó đây!". Nghe lời "ước nguyện" của người đàn ông khốn khổ cả một đời mà sao
thấy lắm nỗi đắng cay đến thế.
Cám cảnh với cuộc sống hiện tại của ông Dục, chúng tôi lại
càng thương đứa trẻ vô tình phải hứng chịu bao nỗi truân chuyên của cuộc đời
ngay khi vừa mới chào đời. Và biết đâu ở nơi nào đó, cuộc sống vẫn có thêm những
bi kịch đắng lòng khi những "con yêu râu xanh" vẫn náu mình trong làng, trong
xóm.
Chứng kiến gia cảnh bần hàn, những chuỗi bi kịch nối dài ập xuống các thân phận
ba thế hệ trong một gia đình, chúng tôi chỉ biết đắng lòng sẻ chia mà thật khó
để tìm ra từ ngữ nào có thể miêu tả trọn vẹn về cuộc đời của 4 con người ấy, đặc
biệt là cuộc đời ông Dục.
Bởi từ khi sinh ra cho đến tận bây giờ, ông vẫn phải
lao vào cuộc mưu sinh đầy bấp bênh, đầy nước mắt để lo cho hết thảy những người
thân, dù tỉnh dù mê, bên cạnh.
Và thú thật, chúng tôi đã bật khóc theo ông khi nghe ông khóc than với đứa con,
đứa cháu khờ dại trong làn nước mắt kèm nhèm, trong ngôi nhà tình thương nay đã
ọp ẹp: "Con ơi! Ba không nuôi nổi các con nữa rồi!".
(Theo Giadinh.net)


