
Từ bản sắc văn hóa hun đúc tự ngàn xưa…
Một trong những nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt Nam là tôn thờ, thành kính tổ tiên, từ thờ tổ tiên trong mỗi gia đình, thờ cúng tổ tiên của một dòng họ, thờ cúng ông tổ của một làng xã tại các đình làng, miếu làng,... tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có từ hàng ngàn đời nay là nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”; rồi đến thờ cúng tổ tiên chung của cả dân tộc, đó là các Vua Hùng - người đã có công khai sơn phá thạch, ngăn thú dữ, chống giặc ngoại xâm, lập nên nhà nước Văn Lang có chủ quyền của người Việt cổ. Trong tâm thức người Việt Nam từ bao đời nay, Vua Hùng là vị thủy tổ dựng nước, là tổ tiên của dân tộc. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương luôn là yếu tố nội dung của văn hóa Việt Nam, góp phần hun đúc lòng tự hào, tinh thần từ một bọc mẹ sinh ra để sống với nhau có nghĩa, có tình, có thủy, có chung, trên, dưới, có xóm, làng, sau trước, có tổ có tông,... sống có văn hóa từ một nguồn cội
“Con người có tổ có tông Như cây có gốc, như sông có nguồn”.
. ![]() |
| Giỗ Tổ Hùng Vương |
Trong ký ức tâm linh của người dân, hình ảnh Vua Hùng được khắc họa là ông vua mở nước, dựng làng, rồi trở thành ông tổ của người Việt, sinh ra bọc trăm trứng nở ra một trăm người con trai khôi ngô tuấn tú - hình thành nên nghĩa đồng bào. Hàng ngàn đời nay, người Việt đã lập đền thờ cúng ông tổ chung các Vua Hùng với hàng ngàn di tích ở khắp mọi miền đất nước.
Hiện có tới 1.417 di tích thờ Vua Hùng và thờ các tướng lĩnh liên quan đến thời kỳ Hùng Vương, chủ yếu tập trung ở Phú Thọ, Hà Tây, Bắc Ninh, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Tiêu biểu nhất là đền thờ các Vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ - nơi có mộ Tổ Hùng Vương. Tương truyền tại đây các đời Vua Hùng thường bàn việc quân cơ từ thế núi trên cao để nhìn thấu bốn bề, canh giữ bờ cõi giang sơn.
Quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước người Việt Nam luôn tôn kính và tâm niệm các Vua Hùng là ông Tổ, lấy đó làm điểm tựa tinh thần, làm đức tin thiêng liêng vào uy linh tổ tiên để chiến thắng thiên tai, thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn bờ cõi. Từ thời Thục Phán dựng cột đá thề trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, khi Hùng Vương thứ 18 nhường ngôi, thề sẽ trọn đời bảo vệ giang sơn mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói, trông nom lăng miếu tổ tiên. Đến thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân Hán cũng đọc lời thề trên sông Hát:
“Một xin rửa sạch nước thùHai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng”.
Khu di tích Đền Hùng được xây dựng từ thời Vua Đinh Tiên Hoàng và hoàn thành dưới thời hậu Lê vào thế kỷ XV, chính là nơi tôn nghiêm nhất để thờ tự các Vua Hùng. Từ đó đến nay, nhà nước và nhân dân ta luôn luôn quan tâm đến việc tu sửa, tôn tạo Khu di tích Đền Hùng và tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương hằng năm.
Vào năm Minh Mạng thứ 4 (năm 1823) đã cho xây “Lịch Đại Đế Vương” ở Phú Xuân, thờ các danh tướng, đế vương, trong đó có Kinh Dương Vương và Hùng Vương. Nhà Nguyễn cũng đứng ra tổ chức lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương với các nghi lễ trang trọng. Năm Khải Định thứ 2 (năm 1917) quan Tuần phủ Lê Tuy Ngọc trình Bộ Lễ quyết định ngày Quốc lễ là ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch, ngày 11 tháng 3 âm lịch để dân sở tại làm lễ, thời gian mở hội thường từ mùng 8 đến mùng 10, và cũng từ đó lễ hội Đền Hùng ngày càng được tổ chức quy mô ở khắp nơi.
Sách Đại Việt lược sử và Đại Việt sử ký Toàn thư đều khẳng định nguồn cội của dân tộc Việt Nam tổ tiên là các Vua Hùng. Thời Hậu Lê còn cho soạn “Ngọc phả Hùng Vương” có ghi từ đời nhà Minh, Lê, Lý, Trần rồi đến triều đại Hồng Đức vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa, ở đây nhân dân toàn quốc đều đến lễ bái tưởng nhớ công lao của đấng Thánh tổ xưa.
Đến năm 1920, sau khi tiến hành tu sửa lớn, Tuần phủ Phú Thọ và các quan tri phủ, tri huyện đều làm lễ Vua Hùng và cho phép 5 làng xung quanh thờ tự Vua Hùng là Hùng Lô, Cao Mại, Sơn Vi, Hữu Bồ, Xuân Lũng tổ chức rước kiệu vào lễ hội Đền Hùng, đồng thời tổ chức các trò chơi dân gian trong lễ hội.
Lễ hội Đền Hùng và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương xuất phát từ đạo lý, từ truyền thống của dân tộc Việt Nam giàu lòng yêu nước, kiên cường bất khuất chống kẻ thù. Nó cũng trở thành động lực tinh thần cho dân tộc.
… đến biểu tượng dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh
Năm 1943, Mặt trận Việt Minh đã treo cờ Đảng, cờ Tổ quốc trên gác chuông trước cửa chùa Thiên Quang trên núi Hùng để tuyên truyền cách mạng, kêu gọi toàn dân đánh đổ Nhật - Pháp. Năm 1946, quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cụ Huỳnh Thúc Kháng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy quyền, thay mặt Chính phủ về dự lễ hội. Khi lễ Tổ cụ đã dâng thanh gươm và một tấm bản đồ Việt Nam cẩn cáo với Vua Hùng, với dụng ý kiên quyết chống giặc ngoại xâm giữ trọn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc và cầu cho quốc thái, dân an, thiên hạ thái bình.
Ngày 19-9-1954, sau kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên Phong tại Đền Hùng với câu nói bất hủ:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Ngày 2-4-2007, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua việc quyết định sửa đổi, bổ sung điều 73 Luật Lao động cho người lao động được nghỉ hưởng nguyên lương nhân Ngày giỗ Tổ Hùng Vương (mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm) để thực hiện tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, thờ cúng tổ tiên. Càng ngày, nghi lễ tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương - lễ hội Đền Hùng càng được thực hiện quy mô và trang nghiêm. Những năm tròn do Nhà nước tổ chức, những năm chẵn tổ chức ở cấp Bộ, hằng năm do tỉnh Phú Thọ đứng ra chủ trì với sự góp giỗ của từ 5 đến 10 tỉnh, thành phố khác.
Năm 2012 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định công nhận Việt Trì là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Phú Thọ. Trước đó, Thủ tướng cũng đã phê duyệt đề án xây dựng Việt Trì là thành phố lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam.
Cùng với việc tổ chức các nghi lễ tín ngưỡng Hùng Vương ngày càng trang trọng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đầu tư, tôn tạo Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hùng với nhiều dự án quan trọng lên tới hàng ngàn tỷ đồng, như mở rộng không gian lễ hội, trục hành lễ, quang cảnh quanh khu di tích, đường giao thông, quy hoạch khu bán hàng lưu niệm, bãi đỗ xe, công viên, hồ nước, nhà điều hành. Đặc biệt là các đền đài được trùng tu nâng cấp rất đẹp mắt và trang nghiêm. Đền Mẫu Âu Cơ với cảnh quan thiên nhiên trên núi Vặn thật tôn nghiêm và thơ mộng. Cảnh quan xung quanh đền Lạc Long Quân được đầu tư với nhiều công trình phụ trợ, như trục đường xunh quanh quả đồi nơi khu đền tọa lạc được lát bằng đá hộp, hồ nước phía trước đền có cây cầu vòng cung bằng đá, các non bộ lớn nhỏ quanh hồ đều được làm bằng đá rất đẹp mắt... mang dáng vẻ vừa cổ xưa, vừa hiện đại. Bên cạnh đó, các công trình nghệ thuật, như nhà triển lãm, nhà trưng bày hoa lan; bức tranh gốm “Ngày hội non sông” dài 36m, cao 4m là bức tranh gốm to nhất Việt Nam; vườn tượng trại điêu khắc quốc tế tổ chức năm 2009, với chủ đề “Ấn tượng Đất Tổ Hùng Vương” với sự tham gia của 32 nhà điêu khắc đến từ 11 quốc gia ở tất cả các châu lục, tạo nên 32 tác phẩm điêu khắc đá hiện đại đặt xung quanh hồ Khuôn Muồi trong khu di tích lịch sử Đền Hùng;… đã góp phần quan trọng làm đẹp cho không quan cảnh quan khu di tích, là nơi thưởng ngoạn, thư giãn cho khách thập phương về lễ tổ tiên và vãn cảnh Đền Hùng.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - thờ cúng ông Tổ chung của dân tộc - là bản sắc độc đáo của văn hóa Việt và là di sản văn hóa tiêu biểu của nhân loại. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trở thành niềm tin thiêng liêng của dân tộc, có sức sống lâu bền và ngày càng lan tỏa mạnh mẽ trong mọi tầng lớp nhân dân. Ngày 10 tháng 3 âm lịch hằng năm trở thành ngày lễ trọng của dân tộc, triệu triệu lượt người hành hương về Đền Hùng thành kính tri ân công đức các Vua Hùng.
Đỗ Ngọc Dũng
