35a.jpg

Dịch vụ của đại gia

Năm 1993, cuộc gọi di động đầu tiên của mạng GSM được VNPT cung cấp chính thức khai trương và do Bưu điện Hà Nội quản lý khai thác. Sau đó, mạng di động này được giao cho MobiFone quản lý. Thời điểm đó dịch vụ thông tin di động là thứ xa xỉ của những người lắm tiền, nhiều của: khách hàng phải trả tới 200 USD cho việc hòa mạng, 20 USD cho cước thuê bao và cước liên lạc là 8.000 đồng/phút. Những chiếc điện thoại di động đầu tiên được bán tại thị trường Việt Nam có giá từ 1500 USD - 2200 USD, to như cục gạch và chỉ có chức năng thoại. Ông Đào Kim Đính, nguyên Giám đốc Công ty Viễn thông Hà Nội nhớ lại: “Năm 1993, khi Bưu điện Hà Nội được giao nhiệm vụ xây dựng mạng di động đầu tiên, tiền thân của mạng MobiFone thì cả máy điện thoại, cước thuê bao, cước hòa mạng và liên lạc đều ở mức cao ngất ngưởng. Chẳng hạn, chiếc điện thoại Alcatel đầu tiên được nhập về theo hệ thống thiết bị tổng đài vừa to, vừa nặng và không có chức năng nhắn tin nhưng được bán với giá 2.200 USD/chiếc”. Các khách hàng đầu tiên sử dụng dịch vụ là quan chức, một số đại gia chủ yếu ở Hà Nội và các văn phòng đại diện nước ngoài.

Những người xây dựng mạng di động ban đầu này kể lại: cả mạng chỉ có 7 trạm thu phát sóng tại Hà Nội. Đến năm 1996, Bưu điện Hà Nội tiếp tục được giao nhiệm vụ xây dựng mạng di động VinaPhone tại 7 tỉnh khu vực từ Quảng Bình trở ra, cước thuê bao di động giảm xuống còn 250.000 đồng/tháng và cước hòa mạng là 1,5 triệu đồng. Cước dịch vụ thông tin di động của mạng này được chia làm 3 vùng với 3 mức cước 4.000 đồng/phút, 6.000 đồng/phút và 8.000 đồng/phút. Thời kỳ đầu, do số trạm BTS quá ít nên có những khách hàng đăng ký nhưng không sử dụng dịch vụ được vì không có sóng. Vì vậy, Bưu điện Hà Nội phải nhận lại máy và hoàn tiền đăng ký hoà mạng cho khách hàng rơi vào tình trạng này. Việc MobiFone và VinaPhone chính thức cung cấp dịch vụ thông tin di động trả sau với mức giá cước quá cao đã không thể thúc đẩy số lượng thuê bao phát triển. Trong những năm đầu, các mạng di động này chỉ phát triển được vài chục nghìn thuê bao/năm. Mãi đến năm 2000, VNPT tung ra gói cước trả trước đã thúc đẩy thị trường tăng trưởng mạnh hơn. Thời điểm đó, muốn sử dụng được dịch vụ thông tin di động mỗi tháng khách hàng phải trả ít nhất 150.000 đồng/tháng, chủ yếu để duy trì dịch vụ.

Nhân tố mới kéo dịch vụ về bình dân

35b.jpg

Cuộc chạy đua cạnh tranh thực sự diễn ra khi Viettel Mobile cung cấp dịch vụ ngày 15/9/2004. Trước đó, năm 2003 S-Fone đã “trình làng” nhưng chỉ được coi là “ném đá ao bèo”. Viettel Mobile đã gây sốc trên thị trường di động với nhiều gói cước mới và các chương trình khuyến mãi ấn tượng, kéo theo số thuê bao liên tục lập kỷ lục trong lịch sử ngành thông tin di động Việt Nam... Sự xuất hiện của Viettel Mobile cũng châm ngòi nổ cho cuộc đua giảm cước. Trong thời gian rất ngắn, các mạng di động đã chuyển từ phương thức tính cước theo block 1 phút +1 phút sang phương thức tính cước theo block 6 giây và tiến tới block 1 giây. Sau đó, EVN Telecom và HT Mobile cũng nhập cuộc khiến thị trường thông tin di động Việt Nam nóng lên từng ngày.

Khi lớp khách hàng thu nhập trung bình đã bão hòa, các mạng di động liên tục đưa ra những gói cước hút khách hàng bình dân. Viettel Mobile vẫn là người tiên phong khi thiết kế ra gói cước Tomato cho người có thu nhập thấp. Ngay sau đó các mạng tung ra những gói cước gây sốc như S-Fone với Forever - khách hàng không cần phải bỏ ra một đồng nào nhưng dịch vụ vẫn được duy trì hay gói cước 1 đồng/giây cũng của mạng này. VinaPhone và MobiFone thì tung ra gói cước siêu rẻ Mobi365, Vina365 với mức cước chỉ 200 đồng cho 10 giây đầu tiên và được duy trì dịch vụ trong 365 ngày mà không mất tiền thuê bao.

Đến thời bán sim kèm “dế”

35c.jpg

Theo thống kê của các mạng di động, phần lớn thuê bao mới phát triển hiện nay là thuê bao trả trước, trong đó có rất nhiều khách hàng chọn các gói cước có mức chi phí thấp như: MobiQ, Tomato, Forever, Mobi365 và Vina365... Thế nhưng, nếu chỉ là những gói cước rẻ thôi sẽ chưa đủ sức hút người có thu nhập thấp sử dụng điện thoại di động. Vì vậy, các mạng đã tính đến việc liên kết và trợ giá máy đầu cuối cho khách hàng sử dụng dịch vụ.

Ngày 28/10/2008, Motorola và MobiFone chính thức công bố chương trình “MoMo 1000”. Theo đó, người tiêu dùng mua máy W175 của Motorola với giá 499.000 đồng sẽ được tặng một sim thuê bao trả trước của MobiFone với tài khoản 498.000 đồng. Ngoài ra, người sử dụng còn được tặng thêm 50% giá trị thẻ cho lần nạp từ thứ 1 đến thứ 5 (trước khi khóa 1 chiều và trước 01/05/2009). Hiện máy W175 cùng gói MoMo 1000 đã được bán trên thị trường. Đây là một trong những động thái giữ vững thị phần và duy trì thế mạnh trong phân khúc máy giá rẻ của Motorola, đồng thời là “chiêu” để MobiFone giữ thuê bao trên mạng lâu hơn. Không nằm ngoài cuộc chơi, Viettel liền cung cấp ngay gói dịch vụ mang tên SumoSim ra thị trường. Hoà mạng bộ SumoSim 1 mệnh giá 549.000 đồng khách hàng được sở hữu 1 Sim với tổng tài khoản 560.000 đồng trong đó có ngay 200.000 đồng và mỗi tháng được cộng 30.000 đồng liên tục trong 12 tháng. Đối với bộ hòa mạng SumoSim 2 mệnh giá 569.000 đồng, khách hàng được 1 Sim với tổng tài khoản 572.000 đồng, trong đó có ngay 200.000 đồng 372.000 đồng được cộng dần vào tài khoản trong 12 tháng (mỗi tháng 31.000 đồng và được tặng một điện thoại Samsung E1110).

Ông Hoàng Sơn, Giám đốc Viettel Telecom cho biết, áp dụng chính sách này phải khá lâu sau khi cung cấp dịch vụ Viettel mới thu hồi được vốn và phát sinh lợi nhuận. Tuy nhiên, Viettel coi việc đầu tư dài hạn cho khách hàng, đẩy nhanh quá trình phổ cập hoá dịch vụ di động góp phần phát triển xã hội là mục tiêu lớn nhất mà công ty hướng tới.

Sau 15 năm dịch vụ đi dộng GSM được đưa vào Việt Nam thị trường đã có bước chuyển ngoạn mục, di động đã chuyển từ xa xỉ thành dịch vụ bình dân của tất cả mọi người.

Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số Xuân Kỷ Sửu 2009