
Tại Ấn Độ, tỷ lệ sử dụng ĐTDĐ tăng nhanh đã tác động xấu đến số lượng thuê bao cố định, Cơ quan quản lý Viễn thông Ấn Độ (Trai) cho biết. Theo thống kê của Trai, trong khi tỷ lệ thuê bao di động ở Ấn Độ vào tháng 9/2007 đạt mức 209,07 triệu thì chỉ sau 1 quý, tức vào tháng 12/2007, đã lên tới 233,62 triệu. Còn thuê bao cố định lại giảm từ 39,58 triệu xuống 39,25 triệu trong quý I/2008. Sự sụt giảm của điện thoại cố định thể hiện rõ ở những vùng nông thôn. Cụ thể, số nông dân Ấn Độ dùng điện thoại cố định đã giảm 2% trong tháng 12/2007, xuống còn 11,75 triệu; cùng thời điểm đó, số thuê bao di động ở nông thôn tăng 19,4% đạt mức 52,52 triệu.
Tại Mỹ, AT&T - hãng viễn thông hàng đầu - cho hay, công ty hiện có khoảng 60,4 triệu thuê bao cố định và 71,4 triệu thuê bao di động. Ngược dòng thời gian, vào quý II/2006, AT&T có 68,7 triệu thuê bao cố định. Kể từ năm 2006, cứ mỗi quý, AT&T lại mất đi một số lượng thuê bao cố định với tỷ lệ tăng dần. Năm 2007, mức sụt giảm là 7,4%. Các nhà phân tích cho rằng, kinh tế tụt dốc có thể tác động đến ngành kinh doanh điện thoại cố định; người tiêu dùng muốn cắt giảm chi phí sẽ bỏ điện thoại cố định - dịch vụ khiến họ mất đi khoảng 60 USD/tháng.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, xu hướng di động thay thế cố định vẫn chưa đáng kể, ông Nguyễn Lâm, Giám đốc hãng nghiên cứu thị trường IDC Việt Nam, nhận định.

Theo ông Lâm, có một số nguyên nhân khiến xu hướng FMS chưa tác động mạnh đến Việt Nam. Trước hết, tỷ lệ thâm nhập của điện thoại cố định tại Việt Nam còn thấp, chưa đến 14%. Chính phủ vẫn khuyến khích các doanh nghiệp viễn thông tiếp tục mở rộng dịch vụ điện thoại cố định, đảm bảo để những gia đình ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa được tiếp cận với điện thoại cố định.
Các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại cố định, chiếm hơn 75% thị phần, đã đầu tư nhiều vào phát triển cơ sở hạ tầng mạng lưới cố định, họ phải đảm bảo thu lợi nhuận từ khoản đầu tư đó. Hơn nữa, sự khác nhau cơ bản về cước phí cuộc gọi di động và cố định tại Việt Nam còn lớn. Giá thiết bị đầu cuối di động chưa hấp dẫn nên xu hướng FMS tại Việt Nam vẫn thấp.
Tuy vậy, ông Lâm cho rằng dù có những đặc thù riêng nhưng trên thị trường Việt Nam xu hướng FMS vẫn diễn ra. Ba năm gần đây, dịch vụ di động đã tăng trưởng gấp đôi mỗi năm, trong khi ï điện thoại cố định lại chưa bao giờ đạt mức tăng trưởng 40%. Tại vùng nông thôn, người dân có thể dùng ĐTDĐ để liên lạc với bạn bè, gia đình. Những người lái xe, nông dân, nội trợ, sinh viên thậm chí học sinh ở Việt Nam - chưa bao giờ là đối tượng nhắm tới của các hãng viễn thông – song hiện nay đã đóng góp một lượng người dùng ĐTDĐ đông đảo.
Được sự hỗ trợ của Chính phủ và các hãng viễn thông, tỷ lệ thâm nhập cố định tại Việt Nam được dự đoán đạt 20% trong 5 năm tới, sau đó giữ nguyên, không tăng nhiều, còn tỷ lệ thâm nhập di động sẽ tăng cho đến khi vượt qua 100%.
Nhiều lợi thế cho di động
Theo ông Nguyễn Lâm, cho đến nay, chưa thể khẳng định ĐTDĐ có thể thay thế hoàn toàn điện thoại cố định, mặc dù xu hướng FMS là không tránh khỏi. Xét về môi trường kinh doanh, chính phủ Việt Nam luôn khuyến khích cạnh tranh bằng việc cho phép nhiều nhà cung cấp viễn thông tham gia thị trường di động và họ được định giá dịch vụ, do đó khuyến khích giảm cước viễn thông, nâng cao chất lượng dịch vụ.
Về thiết bị đầu cuối, nhiều loại máy ĐTDĐ có giá khá rẻ. Nhiều nhãn hiệu di động được phân phối qua các kênh khác nhau. Chi phí mua ĐTDĐ không còn quá cao so với mua điện thoại cố định.
Về lợi nhuận, hầu hết các hãng viễn thông nhận thấy dịch vụ di động mang lại mức ARPU (thu nhập bình quân của hãng cung cấp dịch vụ di động/1 thuê bao) cao hơn so với khách hàng cố định. Do đó, họ nỗ lực mở rộng vùng phủ sóng, các chương trình khuyến mãi, xây dựng nhiều gói dịch vụ và tập trung chăm sóc khách hàng. Tất cả những điều này giúp thu hút nhiều khách hàng đến với dịch vụ di động.
Trên thế giới, nhà phân tích Angel Dobardziev của hãng tư vấn toàn cầu Ovum cho rằng, yếu tố chính của sự di cư sang di động là giá cuộc gọi di động giảm với tốc độ nhanh hơn nhiều so với cuộc gọi cố định. Trong những năm tới, cước di động sẽ giảm với tốc độ nhanh hơn nữa. Giá thành thiết bị giảm, cạnh tranh giữa các hãng di động tăng, những tiện lợi của mạng 3G - tất cả sẽ kéo chi phí dùng di động xuống. Hơn nữa, thiết bị đầu cuối di động còn có nhiều chức năng thời thượng khác mà người dùng ưa thích như gửi/nhận SMS, chụp ảnh, truy cập Internet, nghe FM hay chơi game.
Đáng lo ngại hơn cho các hãng cố định là sự thay thế thói quen gọi điện. Người dùng cả điện thoại cố định và di động ngày càng có xu hướng chuyển sang gọi bằng ĐTDĐ. Tại Việt Nam, ông Lâm cũng cho biết trong các giao dịch hàng ngày, mọi người có xu hướng trao đổi số ĐTDĐ nhiều hơn số điện thoại cố định ở nhà. Điều này không chỉ ăn mòn doanh thu thoại của các hãng cố định mà có thể dẫn tới tình trạng các thuê bao quyết định xóa bỏ luôn hợp đồng cố định.
Các hãng điện thoại cố định cần hành động
Ovum khẳng định FMS là mối đe dọa lớn với các hãng điện thoại cố định - thậm chí họ sẽ không còn ai để phục vụ nếu người dùng quyết định “cắt dây” và “chỉ dùng di động”. Tại các thị trường phát triển, không nhiều người dùng “cắt dây”, bằng chứng là số thuê bao cố định tương đối ổn định ở các nước phương Tây. Tuy nhiên, nhiều người dùng mới lại dùng thẳng dịch vụ ĐTDĐ. Theo khảo sát gần đây của EU, khoảng 12% hộ gia đình ở châu Âu chỉ sử dụng dịch vụ di động. Phần Lan - quê hương của hãng ĐTDĐ Nokia nổi tiếng - là nơi có số hộ gia đình chỉ dùng mỗi dịch vụ di động nhiều nhất với tỷ lệ 29%, tại Pháp là 16%.
Thế nhưng, hầu hết các hãng cố định chưa làm gì nhiều để chống chọi với xu thế FMS. Theo tính toán của Ovum, nếu người tiêu dùng Anh cũng hành động như người Phần Lan, nghĩa là 29% gia đình chỉ dùng di động, hãng viễn thông Anh British Telecom sẽ lỗ 1,1 tỷ bảng Anh (2,15 tỷ USD) doanh thu hàng năm.
Ông Lâm nhận định, điều quan trọng nhất mà các hãng cố định có thể làm là định vị lại dịch vụ của họ để phù hợp hơn với phân đoạn thị trường. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ quan chính phủ, trường học là khách hàng thường xuyên của dịch vụ điện thoại cố định. Ngoài ra, các công ty nên nâng cao sự tiện dụng của dịch vụ bằng cách giúp thực hiện cuộc gọi cố định trên nhiều thiết bị đầu cuối khác nhau, chẳng hạn như máy không dây, gọi qua PC. Những dịch vụ dựa trên IP và cơ sở hạ tầng NGN cho phép các hãng viễn thông đa dạng hóa dịch vụ điện thoại cố định. Chúng cũng cho phép kết hợp giữa dịch vụ di động và cố định trong một gói để cùng hỗ trợ nhau.
Bên cạnh đó, hãng Ovum cho rằng để chống FMS, các hãng cố định phải vô hiệu hóa những yếu tố đẩy người dùng đến với di động, đồng thời tiếp tục củng cố lợi thế. Giá cả là yếu tố quan trọng nhưng không phải duy nhất. Các hãng cố định cần cạnh tranh với các hãng di động về mặt tiện lợi và chức năng máy đầu cuối, đồng thời nhấn mạnh lợi thế về giá cả và chất lượng. Họ phải khai thác thực tế là Internet gắn chặt với điện thoại cố định, từ đó khẳng định vị trí điện thoại cố định trong các hộ gia đình.
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 72 ra ngày 15/8/2008