Ngày 15/5, Ban quản lý Dự án “Nâng cao năng lực sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng tại Việt Nam” do Quỹ Bill&Melinda tài trợ (Dự án BMGF-VN), Bộ TT&TT chủ trì, phối hợp với Bộ VHTT&DL, Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam và các địa phương thực hiện đã tổ chức Hội thảo Đánh giá giữa kỳ về tác động của Dự án đối với đời sống của cư dân 12 tỉnh tham gia bước 1. Tham dự Hội thảo có ông Nguyễn Thành Hưng, Thứ trưởng Bộ TT&TT, Trưởng ban chỉ đạo Dự án; ông Huỳnh Vĩnh Ái, Thứ trưởng Bộ VHTT&DL, Phó ban chỉ đạo Dự án cùng đại diện 28 tỉnh tham gia bước 1 và bước 2 của dự án.

Khai mạc hội thảo, Thứ trưởng Huỳnh Vĩnh Ái đã sơ bộ đánh giá những thành công bước đầu mà Dự án BMGF-VN đạt được, đồng thời chỉ ra những khó khăn, hạn chế mà Dự án gặp phải. Cụ thể: việc phối, kết hợp giữa các cơ quan và các cấp trong thực hiện dự án chưa nhuần nhuyễn; Việc lựa chọn, bố trí nhân sự ở nhiều điểm, địa phương chưa hợp lý; nhiều địa phương tham gia dự án còn chậm, ảnh hưởng đến tiến độ chung của Dự án; chưa đẩy mạnh truyền thông Dự án để người dân biết và hưởng thụ các lợi ích từ dịch vụ.   

Báo cáo đánh giá tác động giữa kỳ về tác động cúa Dự án đến 12 tỉnh đợt 1 đã đưa ra những đánh giá chi tiết về tác động, ảnh hưởng của Dự án BMGF-VN nhìn từ việc thực hiện 10 kết quả mục tiêu đã đề ra như: Dự án đã cung cấp cơ sở hạ tầng thông tin hoàn chỉnh, nâng cao kỹ năng sử dụng, tăng cường tính công bằng trong tiếp cận máy tính và Internet cho người dân ở vùng khó khăn; nâng cao năng lực và động lực phục vụ bạn đọc, khách hàng cho đội ngũ nhân viên; thu hút các nguồn vốn hỗ trợ khác từ địa phương, khu vực và quốc gia và các tổ chức xã hội cho các điểm truy cập công cộng; Cải tiến hệ thống thư viện công cộng (TVCC), BĐVHX trên cơ sở sẵn có… Trong đó, hiệu quả và lợi ích do máy tính và Internet mang lại cho người dân và cộng đồng là kết quả quan trọng nhất của Dự án. Kết quả này được ghi nhận ở 6 lĩnh vực gồm: văn hóa, giải trí, giáo dục, trao đổi trực tuyến, y tế, phát triển kinh tế.

Tính đến nay, 733 điểm TVCC và BĐVHX ở 12 tỉnh thành tham gia Dự án bước 1 đã được trang bị 4.180 máy tính, 640 máy in và các trang thiết bị phụ trợ và được kết nối mạng Internet băng thông rộng. Để phát huy hiệu quả của hệ thống hạ tầng thông tin, Dự án đã tổ chức các khóa đào tạo cho 4.700 lượt cán bộ chuyên môn để nâng cao năng lực kiến thức, kỹ năng phục vụ người dân. Cùng đó, tổ chức 2.100 sự kiện truyền thông để khuyến khích, vận động cộng đồng tham gia và trải nghiệm tiện ích của máy tính và Internet.

Việc ứng dụng máy tính và Internet trên thực tế đã giúp cho 42,6% người sử dụng tiết kiệm thời gian, chi phí và 38,5% tìm kiếm được việc làm trên mạng. Ngoài ra, 8,3% trường hợp đã năng năng suất/sản lượng nông nghiệp, phát triển kinh tế, tăng thu nhập và lợi nhuận cho bản thân và gia đình.

Trong phần tọa đàm về các khuyến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả của Dự án do ông Triệu Minh Long, Phó Vụ trưởng Vụ HTQT, Bộ TT&TT chủ trì, các đại biểu đều đồng tình về những kết quả mà Dự án mang lại cho các địa phương đã tham gia triển khai trong bước 1. Trong đó, quan trọng nhất là tạo ra sự thay đổi to lớn về trang bị cơ sở vật chất (đặc biệt là trang bị cơ sở CNTT); Thu hẹp khả năng tiếp cận và hưởng thụ Internet giữa nông thôn và thành thị; nâng cao năng lực của cán bộ và thay đổi phương thức hoạt động với nhiều dịch vụ mới được mang đến cho người dân.

Trong quá trình triển khai Dự án thực tế ở các địa phương, nhiều khó khăn, thách thức đã nảy sinh. Ngoài trình độ của các cán bộ ở BĐVH và TVCC chưa đáp ứng; nhận thức của người dân ở vùng sâu, xa còn nhiều hạn chế và việc phối hợp hành động giữa các địa phương chưa tốt thì nhiều địa phương còn gặp phải khó khăn về vấn đề bảo dưỡng, duy trì hoạt động của các thiết bị đã được cấp trong khuôn khổ dự án; hạ tầng điện lưới cũng như chất lượng đường truyền dẫn ở các địa phương vùng sâu, vùng xa còn chưa được đảm bảo để duy trì hoạt động tại các điểm BĐVH, TVCC.

Nội dung được các đại biểu nhấn mạnh thảo luận đó là Dự thảo kế hoạch duy trì tính bền vững cho Dự án sau khi kết thúc tài trợ từ quỹ Bill&Melinda. Dự thảo đề cập 12 nhiệm vụ, giải pháp để duy trì bền vững dịch vụ truy nhập máy tính công cộng tại các điểm BĐVH và TVCC.

Tuy nhiên, đa số đại biểu địa phương và các ngành tham dự Hội nghị cho rằng 3 nội dung quan trọng nhất cần quan tâm là:

-Duy trì cung cấp nội dung số địa phương phù hợp với nhu cầu người sử dụng từng vùng, miền vì việc cung cấp thông tin đến người dân vô cùng quan trọng để dự án có thể phát huy lâu dài. Trong đó, có việc chọn lựa và cung cấp tài liệu số phù hợp.

-Xây dựng cơ chế chính sách về tài chính cho các điểm tiếp nhận Dự án bảo đảm duy trì bền vững dịch vụ truy nhập Internet công cộng nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính của Nhà nước, huy động nguồn lực của xã hội để duy trì bền vững dịch vụ truy nhập máy tính công cộng sau khi Dự án kết thúc.

-Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước nhằm kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện, duy trì các hoạt động của các điểm tiếp nhận Dự án.

Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Thành Hưng, Thứ trưởng Bộ TT&TT, Trưởng ban chỉ đạo Dự án nhấn mạnh: Để duy trì hiệu quả của Dự án về lâu dài, các tồn tại và giải pháp phải được chia theo nhóm, trong đó, các nhóm giải pháp cần quan tâm là: Hạ tầng cơ sở tại các điểm triển khai Dự án ở các địa phương. Thứ trưởng đề nghị, trong thời gian tới, Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam cần đầu tư cơ sở vật chất không chỉ ở các điểm triển khai dự án mà còn phải triển khai trên diện rộng đến toàn bộ hệ thống BĐVHX. Về việc nâng cấp đường truyền như nhiều đại biểu quan tâm thì các điểm BĐVHX và TVCC cũng phải nâng cao hiệu quả hoạt động để bù đắp chi phí hoạt động và có thể nâng cấp chất lượng đường truyền ngoài mức kinh phí hỗ trợ từ các doanh nghiệp viễn thông. Về nguồn nhân lực, quan trọng nhất là nâng cao năng lực và ý thức của cán bộ tại các điểm BĐVHX và TVCC. Đồng thời, có cơ chế, chính sách cụ thể ở mỗi địa phương để giữ nguồn nhân lực đã được đào tạo trong khuôn khổ dự án.

Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng nhấn mạnh: Phải cải thiện hơn nữa khả năng phối hợp hoạt động giữa các cấp, ngành, địa phương; tăng cường vai trò của các Sở TT&TT và Sở VHTT&DL trong việc vận động địa phương hỗ trợ về chính sách và tài trợ cho hoạt động của Dự án.