Dự án Vinasat đã từng có nguy cơ thất bại

Hình như ít ai biết quá trình triển khai đề án đăng ký, phối hợp vị trí quỹ đạo vệ tinh là rất cam go?

Khi Thủ tướng Phan Văn Khải ký Quyết định 868/TTg  ngày 24/9/1998 phê duyệt dự án tiền khả thi, trong đó giao cho Tổng cục Bưu điện chủ trì đề án thành phần đăng ký và phối hợp vị trí quỹ đạo, Tổng cục Bưu điện đã chính thức giao cho Cục Tần số Vô tuyến điện triển khai. Thực ra, từ năm 1995, tôi đã giao cho anh chị em ở Cục Tần số nghiên cứu đăng ký vị trí quỹ đạo cho vệ tinh Việt Nam. Việc này không dễ chút nào vì trên quỹ đạo địa tĩnh trong một băng tần chỉ có thể hoạt động không quá 145 quả vệ tinh để không bị can nhiễu lẫn nhau. Mà đến thời điểm đó, mỗi vị trí quỹ đạo địa tĩnh đã có mặt 8-10 quốc gia, nghĩa là hầu như các nước đã đăng ký và giữ chỗ hết rồi. Hàng loạt bài toán hết sức mới mẻ được đặt ra: Làm thế nào tìm được một "chỗ" và là "chỗ" tốt nhất có thể cho Việt Nam? Trước hết, phải nghiên cứu hồ sơ đăng ký vị trí quỹ đạo vệ tinh của các nước đã gửi lên Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), song số lượng hồ sơ quá nhiều. Rồi phương pháp nào để tính toán can nhiễu vệ tinh? Luật lệ của ITU ra sao?... Nhưng với quyết tâm cao, anh em kỹ sư trẻ của Cục Tần số đã tự tìm sách, tài liệu nghiên cứu và rà soát hàng trăm bộ hồ sơ đăng ký. Cuối cùng 4 vị trí quỹ đạo đầu tiên đã được gửi xin đăng ký vào ngày 1/7/1996, trong đó có vị trí 132 độ Đông. Trong những hồ sơ đó, tên Vinasat được đặt cho vệ tinh Việt Nam. Mấy năm tiếp theo, chúng ta đăng ký thêm 5 vị trí nữa, trong đó có vị trí 107 độ Đông. Tuy nhiên, đó mới là bước đầu. Để được ITU phê duyệt thì phải đàm phán và đạt được sự nhất trí của tất cả nhà khai thác nước ngoài có vệ tinh gần với vị trí quỹ đạo Việt Nam đăng ký. Trong khi đó, không có luật nào buộc các nước phải có tinh thần hợp tác.

Tháng 5/2001, 2 vị trí có triển vọng được xác định là 107 độ Đông và 132 độ Đông, trong đó vị trí 107 độ Đông rất thuận lợi về phối hợp nhưng VNPT lại chọn vị trí 132 độ Đông vì dùng băng tần thông dụng ở trong khu vực.

Việc đàm phán vị trí 132 độ Đông có gặp nhiều khó khăn?

Khi chọn vị trí 132 độ Đông, khó khăn lớn nhất là việc đàm phán với Nhật Bản và Tonga. Do 2 quốc gia này không chịu nhân nhượng nên VNPT đề nghị đưa nội dung này vào dự án vệ tinh. Cuối năm 2002, Ban chỉ đạo quốc gia Dự án Vinasat đồng ý với đề xuất của VNPT nhưng kết quả đàm phán với các nhà thầu từ tháng 4/2003 đến tháng 2/2004 không khả quan, không đối tác nào nhận đảm bảo phối hợp vị trí quỹ đạo 132 độ Đông. Trong khi hồ sơ đăng ký vị trí quỹ đạo có hạn đến 17/2/2006 - tức là chỉ còn 2 năm để đàm phán quỹ đạo, chế tạo vệ tinh và phóng vệ tinh (nên nhớ là thời gian chế tạo vệ tinh cũng mất 2 năm). Khi ấy, những người thực hiện cảm thấy Dự án Vinasat-1 có nguy cơ "không thành".

Tháng 3/2004, tôi đề xuất với Bộ trưởng Bộ BCVT Đỗ Trung Tá: Bộ nên nhận lại đề án đăng ký, phối hợp vị trí quỹ đạo và giao Cục Tần số trong 3 tháng. Đề xuất được chấp nhận. Việc đầu tiên là phải sang Nhật đàm phán lại. Muốn vậy phải đổi mới tư duy, không thể duy trì quan điểm cứng nhắc về cấu hình vệ tinh. Mặt khác, phải sử dụng hồ sơ đăng ký dự phòng 4A2 nhằm kéo dài thời hạn quỹ đạo đến 23/5/2008. Nhưng như vậy ngoài Nhật ra phải phối hợp lại với những nước khác. Và trong hai năm 2004-2005, Cục Tần số đã phối hợp được với tất cả các nước. Ngày 30/11/2005, biên bản phối hợp cuối cùng được ký với Tonga. Chủ quyền vị trí quỹ đạo 132 độ Đông của Việt Nam được khẳng định.

Như vậy, kết quả vị trí quỹ đạo 132 độ Đông là một thành công?

Đây là một trong những thành công lớn của dự án Vinasat-1. Chúng ta đã đàm phán được vị trí quỹ đạo theo đúng yêu cầu, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn.

Có ý kiến cho rằng công nghệ của Vinasat-1 là không hiện đại vì không phải công nghệ IP. Theo ông có chính xác không?

Cần đánh giá công nghệ một quả vệ tinh trên 2 mặt: công nghệ khung và tải trọng hữu ích. Về công nghệ khung, Vinasat-1 đạt tới công nghệ rất hiện đại vì tuổi thọ vệ tinh đạt tới 15-20 năm, có chỉ tiêu ổn định quỹ đạo cao, cấu tạo modul ưu việt... Còn về tải trọng hữu ích, cũng có thể đánh giá công nghệ của Vinasat-1 là công nghệ cao vì có công suất bức xạ đẳng hướng đạt tới trên 40dBW (trong khu vực Đông Dương, chưa có vệ tinh nào đạt tới công suất này). Vinasat-1 được thiết kế theo yêu cầu và mục đích sử dụng của nhiều bộ ngành và mục tiêu kinh doanh của VNPT, không giống như mục đích kinh doanh của vệ tinh IPStar của Thái Lan. Bên cạnh đó, khi xây dựng Dự án, VNPT đã tính toán Vinasat-1 có công nghệ hoàn toàn tương thích với toàn bộ 124 trạm VSAT của Công ty Viễn thông quốc tế đang hoạt động thông qua vệ tinh IPStar của Thái Lan. Như vậy, không thể nói công nghệ của Vinasat-1 kém hơn công nghệ của IPStar.

Xin cảm ơn ông!

Tùng Minh

Thực hiện