![]() |
Theo đánh giá của ông Jan Wassenius, Tổng Giám đốc Ericsson Việt Nam và Myanmar, thị trường viễn thông Việt Nam đang chứng kiến sự phát triển mạnh của smartphone và tablet. Thực tế đã dẫn đến xu hướng chuyển dịch từ chủ yếu sử dụng dịch vụ thoại 2G sang các ứng dụng dữ liệu, dịch vụ giá trị gia tăng trong đó người tiêu dùng đóng vai trò trung tâm được thực hiện trên nhiều công nghệ, băng tần khác nhau.
Cụ thể, đó là sự bùng nổ các dịch vụ cần tốc độ và dung lượng rất cao về dữ liệu, đòi hỏi độ trễ thấp như kết nối đa phương tiện, thanh toán qua di động, truyền hình online, tương tác với SmartHome, chơi game hay dịch vụ chuyên nghiệp của ngành an ninh quốc phòng, hàng không…
“Người dùng thiết bị di động muốn được sử dụng dịch vụ tức thời, truy cập các ứng dụng ổn định. Trong xu thế đó, 4G/LTE là một phần trong quá trình hiện đại hóa mạng viễn thông để đáp ứng xu thế tăng trưởng dịch vụ dữ liệu, mang lại chất lượng mạng đáp ứng phù hợp với nhu cầu sử dụng ứng dụng của người dùng”, ông Jan Wassenius nhận định.
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp viễn thông tại Việt Nam dù đã sẵn sàng triển khai 4G/LTE nhưng đang đối diện với việc chưa giải được bài toán lợi nhuận sau khi cung cấp dịch vụ. Dịch vụ 4G/LTE cho tốc độ nhanh hơn nhưng gói cước cũng sẽ đắt hơn 3G. Do đó, câu chuyện thị trường đang khiến cho việc triển khai 4G/LTE tại thời điểm nào tại Việt Nam vẫn chưa thể rõ ràng.
Ông Jan Wassenius cho rằng, để giải bài toán, các nhà khai thác cần phải có phương pháp mới trong việc đánh giá khả năng vận hành và chất lượng trải nghiệm của người dùng, từ đó xây dựng, quản lý mạng hiệu quả, đạt được lợi nhuận. Việc thiết kế các dịch vụ dành cho người tiêu dùng luôn cần phải đạt tiêu chí cá nhân hóa, lấy người dùng làm trung tâm, với các dịch vụ ưu việt dựa trên cách tính cước và quản lý tối ưu. Đồng thời các nhà khai thác luôn cần phải hợp tác hiệu quả với những công ty hàng đầu trong lĩnh vực thiết kế các ứng dụng, cung cấp dịch vụ nội dung…
Bên cạnh đó, cần linh động trong việc triển khai 3G và 4G để đảm bảo nhu cầu người dùng, hiệu quả hoạt động của các ứng dụng. Cụ thể, doanh nghiệp viễn thông tại Việt Nam cần có những cách thức linh hoạt như cung cấp tần số 3G thấp để có được vùng phủ sóng ổn định cho các dịch vụ đòi hỏi tốc độ 1Mbps như mạng xã hội Facebook, lướt web, xem Youtube định dạng SD… Ngoài ra, cung cấp thêm các tần số của công nghệ 4G/LTE để tăng dung lượng đồng thời cung cấp vùng phủ dành cho ứng dụng cần tốc độ đến 10Mpbs (như các ứng dụng video HD).
“Các doanh nghiệp cũng cần lưu ý tích hợp các thiết bị radio từ một công nghệ, sang đa công nghệ (2G, 3G, 4G, Wi-Fi); mạng lõi IP giúp cung cấp đồng thời 2G, 3G, 4G, Wi-Fi, small cells, thoại và dữ liệu; triển khai những ứng dụng mới nhất như Wi-Fi Calling đã được tích hợp ngay trong hệ điều hành iOS8 và Android để thay thế các ứng dụng thoại hiện có như Viber, Skype, WhatsApp, Hangouts…”, đại diện Ericsson nói.
Ông Jan Wassenius cũng nhấn mạnh, 4G/LTE là cuộc chơi công bằng cho tất cả các nhà mạng, kể cả các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ mới gia nhập thị trường, do có nhiều sự lựa chọn linh hoạt nhiều loại băng tần (700MHz, 900MHz, 1800MHz, 2100MHz, 2600MHz hoặc 1,4MHz, 5MHz, 10MHz, 20MHz).
Theo thông tin mới nhất được đại diện Cục Viễn thông (Bộ TT&TT) đưa ra tại sự kiện Internet Day 2014 diễn ra đầu tháng 12 tại TP.HCM, 4G/LTE tại Việt Nam sẽ được thử nghiệm ở băng tần 1800MHz vào năm 2015 và sẽ chính thức cấp phép hoạt động vào năm 2016. Tuy nhiên, thời điểm các doanh nghiệp viễn thông cung cấp ra thị trường còn phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu người dùng.
Tính tới tháng 3/2014, đã có 279 mạng 4G LTE thương mại trên 101 quốc gia và 482 mạng trên 147 quốc gia cam kết sẽ triển khai LTE.
Hiện 50% lưu lượng smartphone LTE được thực hiện trên cơ sở mạng dùng thiết bị Ericsson. Ericsson đã cung cấp mạng LTE vô tuyến và Evolved Packet Core trên toàn thế giới cho 70 quốc gia, trong đó 130 mạng đã đi vào hoạt động thương mại tính tới quý 4/2013. Ericsson cung cấp cả LTE TDD và FDD, có ảnh hưởng lớn tới việc xây dựng các các tiêu chí kỹ thuật của LTE và sở hữu khoảng 25% số lượng bằng sáng chế LTE trên thế giới.
