HQ.jpg
Học trực tuyến là một trong những yếu tố quan trọng góp phần kết nối băng rộng Hàn Quốc. Ảnh: Internet

>> Ấn Độ: Đưa nội dung số về nông thôn/ Doanh nghiệp phải có lãi từ dự án VTCI nông thôn

Chiến lược của Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt/định hướng khu vực tư nhân phát triển và gắn bó với mục tiêu của Chính phủ cũng như điều kiện quốc gia cụ thể.

Chi mạnh tay cho chính sách cung ứng

Chính sách cung ứng của Hàn Quốc có thể chia làm 4 danh mục: chính sách phát triển ứng dụng và cơ sở hạ tầng; chính sách thúc đẩy nội dung; chính sách ngành; chính sách cạnh tranh và quy chế. Hàn Quốc bổ sung 3 nhóm chính sách cơ sở hạ tầng chính từ giữa những năm 1990: cơ sở hạ tầng thông tin (1995-2005), chiến lược mạng hội tụ băng rộng IT839 BcN (2004-2010), siêu xa lộ thông tin UBcN (2009-2013).

Chính phủ đã đầu tư hơn 900 triệu USD vào dự án Cơ sở hạ tầng thông tin. Dự án là ví dụ xuất sắc của cách tiếp cận tích hợp có định hướng đối với băng rộng của Chính phủ. Nó được khởi xướng năm 1995 và bao gồm xây dựng đường trục quốc gia tốc độ cao, phát triển ứng dụng CNTT và thúc đẩy R&D, dự án CNTT thí điểm. Dự án nuôi dưỡng hợp tác công-tư, hỗ trợ triển khai mạng lưới qua chương trình chứng nhận, thiết lập quỹ thông tin khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư dài hạn. Hơn nữa, Chính phủ cũng dự phòng dự án cho thay đổi thị trường.

Tương tự, Chiến lược IT839 nhằm phát triển dịch vụ CNTT, dự án cơ sở hạ tầng, làm mới hoặc nâng cấp thiết bị. Nỗ lực bao gồm tạo ra mạng BcN cho phép tích hợp hệ thống không dây/có dây và khu vực viễn thông/truyền hình để công ty, người tiêu dùng có thể gửi tin nhắn, hình ảnh và video qua cùng một đường truyền. Chính phủ và tư nhân tốn khoảng 70 tỉ USD cho chương trình IT839 tới năm 2010. Như một chuyên gia giải thích, “điểm khác biệt hóa nỗ lực của Hàn Quốc là sự hợp tác chặt chẽ giữa ngành CNTT và Chính phủ”.

Do đó, nhiều nguồn tài trợ cho cơ sở hạ tầng băng thông của Hàn Quốc tới từ khu vực tư nhân thay vì khu vực công. Chi phí đầu tư hơn 900 triệu USD của Chính phủ vào dự án thứ hai chỉ là tỉ lệ nhỏ trong tổng số đầu tư 33 tỉ USD và chỉ chiếm 8% tổng ngân sách CNTT Chính phủ giai đoạn 1998-2003.

Điều quan trọng là phải hiểu được vào trò “gây quỹ” của Chính phủ trong đầu tư thị trường băng rộng Hàn Quốc. Nhìn chung, tài trợ từ Chính phủ để phát triển băng rộng từ năm 1995 tới 2005 chiếm chưa tới 1 tỉ USD trong tổng số 32,5 tỉ USD và tỉ lệ này còn tiếp diễn trong giai đoạn xây dựng UBcN khi phần lớn đầu tư là từ khu vực tư nhân (27,8 tỉ USD) với 1,1 tỉ USD từ khu vực công.

Tiếp cận toàn diện để phát triển hệ sinh thái băng rộng

Chính phủ Hàn Quốc quan tâm đặc biệt tới việc phát triển băng rộng. Nhà nước phát triển tầm nhìn về xã hội thông tin và nâng cao nhận thức của các công dân và doanh nghiệp. Khuôn khổ chiến lược phát triển đặt ra mục tiêu băng rộng và chỉ đạo thiết lập chính sách cung ứng theo nhu cầu như giảm rào cản gia nhập thị trường. Mọi nỗ lực bao gồm đầu tư công vào cơ sở hạ tầng băng rộng, khuyến khích đầu tư tư nhân và mở rộng nhu cầu dịch vụ băng rộng, chính sách thúc đẩy truy cập băng rộng toàn dân, hỗ trợ chính sách công nghiệp và cạnh tranh.

Cách tiếp cận của Hàn Quốc bao gồm chiến lược, chính sách, chương trình phát triển 4 yếu tố của hệ băng rộng: mạng lưới, dịch vụ, ứng dụng và người dùng. Mạng lưới và dịch vụ băng rộng tăng trưởng nhanh chóng nhờ cạnh tranh khốc liệt dựa trên dịch vụ và cơ sở hạ tầng. Thực tế, gần như mọi chính sách cung ứng đều nhằm mở rộng vai trò của khu vực tư nhân trong việc giúp Chính phủ đạt được mục tiêu cơ sở hạ tầng, phát triển dịch vụ, ứng dụng. Năm 1988, mạng truyền hình cáp lớn nhất đất nước – ThruNet – giới thiệu dịch vụ băng rộng. Năm 1999, nhiều nhà mạng phát hành dịch vụ ADSL và nhanh chóng giành thị phần. Giữa năm 2000 và 2002, Hàn Quốc trở thành một trong những nước có tỉ lệ tiếp cận Internet bùng nổ của thế giới với số lượng thuê bao tăng 200% và tỉ lệ thâm nhập hộ gia đình tăng từ 27% lên 69%. Triển khai FTTH bắt đầu từ giữa những năm 2000. Cuối năm 2005, các nhà mạng bắt đầu tập trung vào thế hệ mạng mới. Lần triển khai này khá rộng lớn và tới cuối năm 2008, lượng thuê bao cáp quang đạt 6,6 triệu, FTTH chiếm 43% kết nối băng rộng quốc gia. Ngoài ra, tới tháng 6/2009, tỉ lệ tiếp cận băng rộng cố định tại đây đã là 32%, tỉ lệ tiếp cận 3G là 77 thuê bao/100 dân.

Tạo điều kiện thuận lợi đáp ứng nhu cầu cũng là một phần quan trọng trong cách tiếp cận của Hàn Quốc. Vào giai đoạn đầu, các dịch vụ chính dẫn dắt tỉ lệ thâm nhập băng rộng là giao dịch chứng khoán trực tuyến, dịch vụ giáo dục và game. Khi sự thâm nhập tăng lên, dịch vụ chuyển sang hướng tương tác hơn như mua sắm, email, mạng xã hội và ngày nay lại tập trung vào tải nhạc và game. Chính phủ điện tử, thương mại điện tử (TMĐT) và học trực tuyến cũng là những yếu tố quan trọng trong kết nối băng rộng Hàn Quốc. CNTT đóng vai trò cơ bản trong giáo dục xứ sở kim chi. Edunet – một trong những dịch vụ đào tạo trên mạng Hàn Quốc – ra mắt năm 1996. Tới năm 2008, nó đã có 5,8 triệu thành viên. Hiện tại, Chính phủ lần lượt thực hiện các bước nhằm tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu của các nhà sản xuất nội dung số bản địa như bổ sung kế hoạch quảng bá quốc gia, tạo ra nền tảng pháp lí cho quảng bá nội dung và hướng tới trở thành một trong năm nhà sản xuất nội dung hàng đầu thế giới vào năm 2010.

Tổng hợp

Bài viết được đăng trên báo Bưu điện Việt Nam số 151 ra ngày 17/12/2012