![]() |
| Sự khác biệt giữa hai tấm ảnh chân dung của hai thời đại nằm ở nụ cười. Ảnh: Petapixel |
>> Trào lưu nhiếp ảnh “retro” bùng nổ/ Khám phá bí quyết chụp ảnh đẹp với smartphone/ Ảnh chụp từ iPhone lên trang bìa tạp chí Time
“Say Cheese” (nói “cheese”) đã trở thành một phần trong nền văn hóa của người phương Tây khi chụp ảnh. Ý nghĩa đơn giản của nó là “cười đi” (khi phát âm “cheese” (giống âm "chi" của tiếng Việt), khuôn miệng như đang cười). Với nhiều người, tạo dáng và cười khi chụp ảnh là điều “không phải nghĩ” song tại sao mọi người lại cười khi chụp ảnh và khi nào thì thói quen này bắt đầu? Nếu lục lại những tấm ảnh chân dung vào buổi đầu nhiếp ảnh, hay thậm chí nửa thế kỉ trước, bạn sẽ thấy chủ thể đều mang gương mặt u ám.
Hạn chế về kĩ thuật
![]() |
| Tấm ảnh đầu tiên của thế giới mất tới 8 tiếng phơi sáng. Ảnh: Nicéphore Niépce |
Tấm ảnh đầu tiên được chụp – “View from the Windows at Le Gras” (1926) mất tới 8 tiếng để đo sáng. Khi Louis Dagurre giới thiệu phép chụp hình Đage (daguerreotype) năm 1839, ông giảm thời gian này xuống còn 15 phút. Đây là bước đột phá cho ngành nhiếp ảnh nhưng vẫn chưa đủ để có được các tấm ảnh chân dung thân thiện.
Tác giả Chris Gaynor của hãng tin CSMMoniter viết: “Phát minh đã cách mạng hóa ngành nhiếp ảnh. Tuy vậy, ảnh chân dung vẫn gây khó chịu. Thật may nếu có thể để bọn trẻ đứng yên để chụp ảnh gia đình, hay có thể thuyết phục người lớn bất động trong 15 phút. Vì thế, nhiếp ảnh gia đặt ra nguyên tắc đơn giản: Không nói chuyện. Không điều chỉnh. Không cựa quậy. Và để an toàn, không cười. Cười toe toét vận tới quá nhiều cơ bắp. Mọi người sẽ mệt mỏi, thay đổi thái độ và làm hỏng daguerreotype. Không có gì phải thắc mắc tại sao mọi người trong những tấm ảnh cũ lại trông nghiêm trọng như vậy. Họ cần nhìn chằm chằm để có được ảnh đẹp.”
![]() |
| Thử tưởng tượng khi đứng trước gương, cười và giữ nguyên tư thế trong 15 phút, bạn sẽ hiểu “nỗi khố” khi chụp ảnh chân dung thời kì đó là như thế nào. |
Vệ sinh răng miệng kém
Ngay cả khi có thể mỉm cười, có lẽ không ai muốn “khoe răng”, đơn giản vì dịch vụ chăm sóc răng miệng nghèo nàn thời kì đó sẽ dẫn tới các bức ảnh không đẹp mắt. Tác giả L.Wood của Phòng bảo tồn lịch sử Ohio Historical Society giải thích: “Mọi người, đặc biệt là người già hơn, không cười thoải mái vì họ không có bộ răng tốt. Những năm 1800, chăm sóc răng miệng không phổ biến. Để chữa răng sâu chỉ có cách đơn giản là nhổ nó đi. Vì thế, những người bị sứt răng hay thiếu răng thích chụp ảnh mím miệng hơn.”
Tính chất trang trọng của buổi chụp ảnh
Với 3.500 bức ảnh được tải lên Facebook mỗi giây, nhiếp ảnh trở nên quá quen thuộc trong thế giới hiện đại. Máy ảnh ở khắp nơi và mọi người thoải mái chụp ảnh mà không lo ngại gì cả. Tuy nhiên, với những người của thế kỉ trước, chụp ảnh là một việc vô cùng hiếm và đắt đỏ; một lần chụp ảnh chân dung giống như tiêu tiền xa xỉ và rất nghiêm trọng, nghi thức cho những dịp trang trọng như thế là không nên cười.
L.Wood viết: “Với phần lớn mọi người, chụp ảnh không phải là hành động quen thuộc mà là một thứ xa xỉ. Họ có lẽ chỉ được chụp một (vài) lần trong đời. Mọi người tin rằng biểu hiện nghiêm túc hợp với các dịp đặc biệt hơn.”
Giới thượng lưu thường được chụp ảnh chân dung hơn người nghèo khổ và nụ cười cũng bắt đầu xuất hiện trong ảnh của giới này. Những tấm ảnh chân dung đầu tiên mang phong cách của tranh chân dung truyền thống châu Âu, nơi nụ cười chỉ nở trên gương mặt nông dân, trẻ em hay gã say rượu. Tiêu chuẩn vẻ đẹp của thời đại cũng kêu gọi khuôn miệng khép chặt có kiểm soát.
Từ “prunes” đến “cheese”

Tới giữa thế kỉ 20, nhiếp ảnh trở nên nhanh hơn, rẻ hơn và thông dụng hơn. Mọi người cũng quan tâm tới chăm sóc răng miệng hơn. Tuy vậy, phải mất một thời gian thì “say cheese” mới nổi lên. Nhiếp ảnh gia trước đó dùng một từ khác: “prunes” (quả mận khô). Tờ Economic Times viết: “Thay vì bảo đối tượng nói “cheese”, nhiếp ảnh gia trong tiệm ảnh Anh khuyên họ nói “prunes” để khép chặt môi lại. Sau đó, tại Mỹ, hãng Kodak bắt đầu sản xuất máy ảnh giá rẻ để mọi người có thể mua được.
Việc bán hàng khá khó khăn. Kodak phải phát hành các cuốn hướng dẫn và chỉ cho mọi người rằng chỉ cần bấm nút chụp (shutter) và máy sẽ làm công việc xử lí thay thế. Những ấn phẩm lớn như Life đảm bảo mọi người được biết nhiếp ảnh không chỉ là chụp trong studio. Họ nhận ra có thể trông tự nhiên hơn và hạnh phúc hơn khi nhận được ảnh chụp của mình.”

Sau đó, Kodak bắt đầu chiến dịch tiếp thị máy ảnh với những tấm ảnh về các gương mặt cười rạng rỡ. Khi đã truyền bá niềm vui của nhiếp ảnh tới đám đông, Kodak lại đóng vai trò quan trọng trong việc đưa “Say cheese” tới với nền văn hóa nhiếp ảnh gần gũi và bình dị.
Theo Petapixel


