Những năm gần đây, đất nước đã bỏ ra hàng ngàn tỉ đồng để xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Đồng Mô (Hà Nội) với mục đích biến nơi đây trở thành “thánh địa” của lĩnh vực văn hóa – du lịch – dịch vụ.
Thế nhưng, đến nay Làng Văn hóa có lẽ là một công trình lãng phí bậc nhất trong lĩnh vực văn hóa, bởi dự án kéo quá dài với số tiền cả ngàn tỉ đổ vào nhưng vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn.
![]() |
| Căn nhà của đồng bào Pupéo cũng giống như mọi căn nhà trong Làng VH đều không có người ở, rất hôi và ẩm mốc. |
Tiền đổ như lá tre
Cách đây hơn 20 năm, ý tưởng xây dựng một “Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam” tại khu vực phía tây Hà Nội nhằm tái hiện, gìn giữ, phát huy và khai thác các di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam; tăng cường tình đoàn kết, sự hiểu biết lẫn nhau, giáo dục lòng tự hào dân tộc và tình yêu quê hương đất nước của công dân Việt Nam; tăng cường tình hữu nghị, hợp tác và trao đổi văn hóa với các dân tộc trên thế giới; phục vụ nhu cầu tham quan, du lịch và nghiên cứu của nhân dân trong nước và du khách quốc tế, đồng thời, xây dựng một trung tâm du lịch, dịch vụ, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí có tầm cỡ quốc gia, được Bộ Văn hóa – Thông tin lúc đó đệ trình tới các cơ quan cao nhất của đất nước cho ý kiến và phê duyệt.
Trải qua hàng chục cuộc hội thảo từ khắp các địa phương đến trung ương về đủ các vấn đề liên quan như thiết kế, thi công, quản lý, vận hành... ngày 3.10.1999, dự án “Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam” đã long trọng khởi công xây dựng với sự chứng kiến của nhiều nhà lãnh đạo đất nước.
Dự án có quy mô hoành tráng với diện tích chiếm đất lên tới 1.544ha tại Đồng Mô, Sơn Tây (Hà Nội) gồm các hạng mục như: Khu “Các làng dân tộc”; khu “Trung tâm văn hóa và khu vui chơi giải trí”; khu “Di sản văn hóa thế giới”; khu “Công viên bến thuyền”; khu “Dịch vụ du lịch tổng hợp”...
Nếu không tính những khoản đầu tư trị giá hàng trăm tỉ từ 2007 trở về trước thì nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước đã được Chính phủ phê duyệt để đầu tư cho dự án trong giai đoạn từ 2008-2015 là 3.256,8 tỉ đồng - một con số khổng lồ cho một dự án văn hóa.
Theo bà Toán Thị Hương - Chánh văn phòng Ban Quản lý dự án Làng Văn hóa các dân tộc - thì trong những năm gần đây, mỗi năm có hơn trăm tỉ đồng được đổ vào xây dựng dự án. Nếu tính từ lúc khởi công đến nay, số tiền đổ vào cho dự án này đã gần cả ngàn tỉ đồng.
Ngơ ngác Đồng Mô
Dù đã đổ vào đây với số tiền cực lớn, nhưng đến nay “Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam” vẫn chưa mang lại điều kỳ vọng. Khác hẳn với những khu du lịch hoặc công trình văn hóa luôn rộng cửa đón khách, cửa vào làng luôn đóng im ỉm. Xe dừng trước cổng gọi mãi mới thấy anh bảo vệ bước ra. Nhìn chúng tôi từ đầu đến chân như gặp người trên trời rơi xuống, anh bảo vệ hất hàm hỏi: “Vào đó làm gì?”.
Từ cổng A đi vào, hai làn đường trải nhựa cho cả chục làn xe chạy, thênh thang, hơ hoác, không một bóng người. Những nhà chờ xe, những hộ lan được xây dựng ven đường đã xiêu vẹo, gỉ nát.
Mất nửa tiếng đồng hồ lòng vòng, dò dẫm quanh những con đường chìm lút trong đám cỏ hôi, gai xấu hổ và dãy cống mất nắp như những chiếc bẫy giương sẵn chờ khách vì những tấm biển chỉ dẫn đã hoen gỉ, mục nát không nhìn thấy chữ, cuối cùng chúng tôi cũng tìm được đến “Khu các làng các dân tộc”.
Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Lại một chiếc barie bằng một thanh tre mục chắn ngang lối vào, dưới treo tấm biển “hết giờ tham quan”. Một thanh niên tay đeo băng đỏ giữ barie quyết không cho người lạ vượt qua, ra yêu cầu: “Đề nghị các anh vào đăng ký bên phòng kiểm soát”.
Thấy có khách, cô cán bộ tiếp đón xòe bàn tay gạt vội cái bàn đầy bụi, vương vãi trà khô, lật đật giở sổ ghi chép. Sau khi khai xong tên, tuổi, cơ quan báo chí, chiếc barie được kéo lên mà không có bất kỳ câu giải thích về tấm biển “hết giờ tham quan”. Cô cán bộ kiểm soát không biết là do thấy chúng tôi khai là nhà báo hay do tốt bụng thật nên chạy theo gọi với: “Anh cứ đi tham quan tự do, nếu cần có hướng dẫn viên thì trong đó có hướng dẫn”...
“Làng các dân tộc” là mấy chục căn nhà được mô phỏng theo kiến trúc nhà ở của đồng bào các dân tộc. Chúng tôi vào làng với hy vọng sẽ gặp được ở đâu đó tấm áo chàm của người Tày, Nùng hoặc thổ cẩm của đồng bào Ê Đê, Ba Na... nhưng tìm mỏi mắt cũng không thấy bóng người.
![]() |
|
Khu đảo Sơn Tinh đã bị một tư nhân chiếm dụng, kinh doanh trái phép. |
Tất cả những căn nhà đều khóa cửa im ỉm. Ngó được qua cửa sổ vài căn nhà, mùi hôi nồng, ẩm mốc xộc thẳng vào mũi, bên trong không có bất cứ thứ vật dụng gì. Những căn nhà đất của đồng bào phía bắc, sàn đổ bêtông nham nhở. Ghế dài, tượng tại nhà mồ của đồng bào Tây Nguyên cũng chỉ là những mô hình bêtông lạnh lẽo bị đám cỏ tầm ma, chuối dại che lút.
Đi đến mỏi chân mà cũng không tìm nổi một quán càphê hay tiệm ăn, thậm chí ngay cả nhà vệ sinh cũng bị khóa, khiến cho du khách nếu có nhu cầu tối thiểu cũng đành phải... bậy ra vườn.
Tìm mãi, cuối cùng tôi cũng gặp một cô hướng dẫn viên du lịch. Cô tên Diệu An, quê tận Kon Tum, buồn buồn giới thiệu: “Giờ làng vẫn là thử nghiệm nên tất cả đều miễn phí. Miễn phí vào cửa, miễn phí hướng dẫn viên, các dịch vụ khác ở đây đều không có, các anh muốn ăn, uống, nghỉ thì phải ra ngoài đường quốc lộ, hoặc bơi thuyền sang phía bên kia hồ Đồng Mô.
Vì không có dịch vụ gì nên bọn em cũng chẳng sống ở đây được. Sáng Ban quản lý cho xe đón chúng em từ số 1 Hoa Lư (Hà Nội) đưa lên đây, chiều lại đưa về, cũng mất thời gian và tốn kém”. Giám đốc một Cty du lịch lớn ở Hà Nội đi cùng tôi muốn khảo sát thực địa nhằm tìm kiếm một hướng mở tour, thở dài buồn nản:
“Đã tiêu tốn quá nhiều tiền, nhưng xem ra nơi này không so sánh được với Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ngay trung tâm thủ đô, vì ở đó không gian sống động và thu hút đông đảo khách du lịch, nhất là khách nước ngoài...”.
Giấc mộng kê vàng
Theo bà Toán Thị Hương thì thực tế cho đến nay Làng Văn hóa vẫn trong quá trình xây dựng, nên làng chỉ có 3 hoạt động thường niên. “Hoạt động thứ nhất là hoạt động lễ hội đầu năm diễn ra trong vòng 1 tuần trước rằm tháng giêng, hoạt động này nhằm để Chủ tịch Nước đến chúc tết đồng bào 54 dân tộc anh em. Hoạt động thứ 2 là Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam diễn ra trong vòng 10 ngày, bắt đầu từ 19.4 -28.4. Và đợt cuối diễn ra từ 18-23.11 là ngày Đại đoàn kết các dân tộc. Tổng chi phí của Bộ VHTTDL chi cho 3 hoạt động này khoảng 5-6 tỉ đồng” – bà Hương nói.
Cũng theo bà Hương thì chỉ có những đợt Bộ VHTTDL tổ chức các hoạt động thường niên này thì mới nhờ các địa phương huy động đồng bào dân tộc từ các địa phương về biểu diễn cho mọi người xem. Sau khi tổ chức xong, đồng bào lại “khăn gói quả mướp” trở về quê hương, bỏ lại những căn nhà trống, hoang hoải, ngơ ngác trong những chiều Đồng Mô.
Tôi đặt câu hỏi: “Với số tiền tổ chức mấy cái lễ hội đó có tốn kém và hình thức quá không, vì sau khi xong hội, làng không có sự sống thì lấy đâu ra không gian văn hóa. Và nếu như du khách phương xa đến không đúng ngày lễ hội của làng thì họ có gì để xem?”. Bà Hương trả lời: “Làng vẫn trong quá trình xây dựng nên có thể phải sau 2015 mới đáp ứng yêu cầu của anh được”.
Nếu như chỉ nhìn số tiền hơn 3.000 tỉ đồng đổ vào đến năm 2015, người ta hoàn toàn có thể mơ đến một khu văn hóa – du lịch – dịch vụ hoành tráng. Nhưng liệu số tiền đó có được đầu tư thực vào đây hay không? Bởi thực tế cho thấy, dự án “Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam” đang giống như “giấc mộng kê vàng”.
Trong khi Quốc hội, Chính phủ đang ra sức bàn các phương án tiết kiệm, chi tiêu hiệu quả ngân sách nhà nước, đã có hàng loạt dự án không hiệu quả bị cắt giảm đầu tư, thế nhưng ngay giữa Thủ đô Hà Nội, một dự án hàng ngàn tỉ đồng không hiệu quả nhưng vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, và hứa hẹn sẽ tiếp tục ngốn thêm tiền thuế của dân. Có lẽ ngay bây giờ, Quốc hội, Chính phủ và trước hết là Bộ VHTTDL cũng cần xem xét lại dự án này trước khi quá muộn.
Theo Lao Động

