Sau 3 năm Luật bảo
hiểm y tế
(BHYT) có hiệu lực, tỷ lệ dân số có thể BHYT tăng từ 60% đến 66,8%. Bộ Y
tế đề
ra mục tiêu đến năm 2020 có trên 80% dân số tham gia BHYT và tiến tới
BHYT toàn
dân.
Sau 3 năm thực hiện, Luật Bảo hiểm y tế đã thực sự đi vào cuộc sống, những
kết quả đạt được là cơ sở vững chắc để thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân.
Số người tham gia BHYT đã gia tăng nhanh chóng, đến năm 2012, số người tham gia
BHYT là 59,164 triệu, đạt tỷ lệ 67% dân số.
Việc quản lý thu chi quỹ BHYT từng bước được cải tiến, cùng với việc tăng
mức đóng BHYT, tăng cường công tác quản lý, kiểm soát chi phí, từ năm 2010 đến
nay quỹ BHYT đã có kết dư trên 12 ngàn tỷ đồng. Nguồn thu từ BHYT đã đóng góp
khoảng 80% tổng kinh phí phục vụ KCB tại các bệnh viện, góp phần nâng chất lượng
KCB cho người dân.
Đối với người tham gia BHYT, việc tiếp cận cơ sở y tế thuận lợi, tiếp cận
các dịch vụ y tế có chất lượng và thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế khi khám
chữa bệnh là một trong những chỉ số cơ bản cho thấy sự hấp dẫn của chính sách
BHYT.
Trong những năm gần đây, số lượt người có thẻ BHYT đi khám chữa bệnh tăng
nhanh về cả số lượng và tần suất tại tất cả các tuyến y tế. Năm 2012 ước tính có
121 triệu lượt người có thẻ BHYT đi khám chữa bệnh, tăng gần 2,6 triệu lượt so
với năm 2011.
Quyền lợi của người tham gia BHYT cũng liên tục được xem xét, mở rộng
trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng cao, khoa học
công nghệ ứng dụng trong chẩn đoán, điều trị và sản xuất thuốc luôn phát triển
không ngừng. Nhiều dịch vụ kỹ thuật, nhiều loại thuốc đã được chi trả trong khi
các nước có điều kiện kinh tế phát triển hơn Việt Nam nhiều lần cũng không được
Quỹ BHYT chi trả.
![]() |
|
|
Bộ Y tế đã chủ trì, phối hợp với
Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các ngành liên quan xây dựng danh mục các kỹ thuật
được Quỹ BHYT chi trả, trong đó có nhiều loại dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn
như mổ tim hở, tim mạch can thiệp, thay ổ khớp nhân tạo, phẫu thuật bằng dao
gamma, chụp cắt lớp vi tính, chụp công hưởng từ hạt nhân….
Tương tự, các thuốc điều trị, bao gồm cả thuốc tân dược gồm 1143 hoạt chất, 57
hoạt chất phóng xạ và thuốc đông y với 127 chế phẩm thuốc và 300 vị thuốc thuộc
phạm vi chi trả từ quỹ BHYT do Bộ Y tế ban hành đã đáp ứng được nhu cầu điều trị
của người bệnh và công tác chuyên môn của các cơ sở khám chữa bệnh.
Một số loại thuốc có giá thành và chi phí điều trị cao như thuốc điều trị ung
thư, thuốc chống thải ghép cũng được quỹ BHYT chi trả theo đối tượng mặc dù khả
năng chi trả của Quỹ BHYT còn hạn chế. Điều này chứng tỏ tính ưu việt của chế độ
BHYT ở Việt Nam, khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với công tác chăm
sóc sức khỏe nhân dân và chính sách BHYT, đồng thời cho thấy khả năng quản lý
tốt các nguồn lực, trong đó có nguồn quỹ BHYT trong công tác bảo vệ, chăm sóc
sức khỏe nhân dân.
Tuy nhiên, vẫn còn một số thách thức đang đặt ra khi thực hiện mục tiêu BHYT
toàn dân, đó là: Tăng tỷ lệ bao phủ BHYT, mô hình bệnh tật thay đổi, chi phí y
tế tăng nhanh, giá dịch vụ y tế chưa tính đúng, tính đủ trong khi nhu cầu bảo vệ,
chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày một tăng.
Trong thời gian tới, với sự đồng
bộ của các chính sách về đầu tư hệ thống y tế, đổi mới chính sách tài chính y tế,
chính sách BHYT, cùng với quyết tâm của cả hệ thống chính trị trong thực hiện Đề
án “Thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012-2015 và
2020” do Chính phủ ban hành tại Quyết định 538/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 thì mục
tiêu đến năm 2020 đạt tỷ lệ bao phủ BHYT trên 80% dân số là hoàn toàn khả thi.
Trong quá trình thực hiện, cùng với việc hoàn thiện các chính sách, pháp luật về
BHYT, việc các cơ sở y tế tiếp tục triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng
KCB, cải cách thủ tục hành chính, quy trình khám chữa bệnh, thực hiện quy tắc
ứng xử, thực hành các kỹ năng, chuẩn mực chuyên môn,…sẽ là một trong những nền
tảng để đạt mục tiêu bao phủ BHYT trên cả 3 phương diện về tỷ lệ dân số tham gia
BHYT, phạm vi dịch vụ y tế được thụ hưởng và giảm chi trả từ tiền túi của người
sử dụng dịch vụ y tế; đảm bảo quyền lợi của người tham gia BHYT, góp phần tạo
nguồn tài chính ổn định cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hướng công
bằng, hiệu quả, chất lượng và phát triển bền vững.
-
Lê Văn Khảm ( Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế)
