“Như cánh én tôi đi tìm xuân, tìm đến công trường đầy nắng gió bụi mờ…” Câu hát ấy cứ vang lên trong tôi khi về với đại công trường Nhà máy Thủy điện Sơn La vào những ngày giáp Tết.

2008 được coi là năm chuyển mình trong tiến độ thi công Dự án Nhà máy Thủy điện Sơn La. Cho tới thời điểm này, trên 50% khối lượng công việc đã hoàn thành, để tiến tới 2010, tổ máy số 1 sẽ phát dòng điện đầu tiên hoà vào lưới điện quốc gia.

Sức vóc của những người hùng

Những đợt gió lạnh, hanh khô cuối năm khiến cả công trường Nhà máy Thủy điện Sơn La không khác gì một túi bụi khổng lồ. Khoảng 6000 công nhân thay nhau làm việc trực tiếp trên công trường 24/24 giờ. Phía bờ phải của đập thuỷ điện, phần đập tràn sừng sững hiện ra với 12 cửa xả đáy. Giai đoạn ngăn sông cuối cùng cũng đã được tiến hành để chuyển sang khâu xử lý kênh dẫn dòng. Công việc này đang chạy đua với mùa lũ để đến cuối tháng 3/2009 có thể xả nước tràn qua.

Một góc công trường

Đêm xuống, công trường sáng rực như thế giới ngàn sao, nhiệt độ xuống thấp khác hẳn với cái nắng nóng hanh khô ban ngày. Dưới ánh điện, hàng nghìn công nhân miệt mài làm việc trên những khối bê tông đồ sộ, những trụ giàn giáo ngất ngưởng.

Sự đột phá lớn nhất của công trình Thuỷ điện Sơn La năm 2008 chính là 1,9 triệu m3 bê tông đầm lăn RCC được đổ thành công, vượt kế hoạch gần 2 tháng. Thủy điện Sơn La là nơi đầu tiên áp dụng công nghệ đổ bê tông tiên tiến này tại Việt Nam, đây cũng là công trình sử dụng khối lượng RCC lớn nhất thế giới với tổng khối lượng trên 3 triệu m3. Khi được hỏi về tiến độ công trình, ông Nguyễn Kim Tới, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Sông Đà, Giám đốc Ban điều hành Dự án Thủy điện Sơn La cho biết: “Do kế hoạch gấp rút, có những công việc chúng tôi vừa làm vừa thí nghiệm, nhưng nhìn chung công trình vẫn đang bám sát tiến độ.”

Mỗi công trình là một mối tình

Từng gắn bó với các công trình thủy điện như: Hòa Bình, Vĩnh Sơn, Sông Hinh, Yali, Tuyên Quang… và giờ đây là thủy điện Sơn La, người kỹ sư già Trịnh Trung Chính, công ty cổ phần Sông Đà 7 chiêm nghiệm: “Đời công nhân thủy điện nay đây mai đó, mỗi quãng đời của mình lại gắn bó với một công trình. Vì vậy mỗi công trình đối với chúng tôi là một mối tình sâu nặng.”

Mái tóc bạc phơ, làn da nâu sạm khiến kỹ sư Chính già hơn cái tuổi 54 rất nhiều, ông tâm sự: “Thế hệ chúng tôi ngày xưa lớn lên từ hạt lúa củ khoai, cái gì chạm tới máy móc cũng hết sức bỡ ngỡ. Bây giờ, lớp trẻ có điều kiện học tập, có khả năng nắm bắt nhanh, và đặc biệt được làm việc trong một môi trường sử dụng công nghệ tiên tiến với độ an toàn cao gấp nhiều lần so với chúng tôi ngày xưa.” Tuy nhiên, theo ông Chính, thời đại nào cũng yêu cầu người công nhân thủy điện có nhiệt huyết lớn. Người đi làm thuỷ điện như đi đánh giặc, chinh chiến tại những nơi thâm sơn cùng cốc. “Công trình là cái lò tôi luyện về sức lực cũng như ý chí. Nếu ai không chịu được sẽ giống như hòn đá nhỏ vỡ ra bị nước suối cuốn phăng ”, ông Chính nói.

“Thủy điện Sơn La, nơi rèn luyện, cống hiến và trưởng thành của tuổi trẻ” là một trong những khẩu hiệu chạy dọc con đường đi vào công trường. 2008 cũng là năm hàng trăm sáng kiến lớn nhỏ của kỹ sư trẻ được đưa vào áp dụng, góp phần tiết kiệm cả về tiền bạc lẫn thời gian thi công. Tiêu biểu là những sáng kiến như lắp đặt cốt pha treo, máy hút chân không tự chế, sơ đồ phun sương bảo dưỡng bê tông… và đặc biệt là sáng kiến bơm tro bay cho trạm chộn bê tông RCC đã khiến các chuyên gia nước ngoài phải ngạc nhiên và đánh giá cao.

Trên khối đập không tràn bờ trái, kỹ sư trẻ Nguyễn Hoàng Vũ đang giám sát công nhân đổ bê tông đầm lăn RCC, tự tin cho biết: “Chuyên viên nước ngoài rất tin tưởng và đánh giá cao trình độ, tay nghề của công nhân, kỹ sư Việt Nam đang làm việc trên công trình”.

Chuyện tình của những cuộc đời 3 ca 4 kíp

Trong 5 năm, kể từ khi những người công nhân đầu tiên đặt chân tới công trình thủy điện Sơn La, có hàng trăm mối tình đã đơm hoa kết trái.

Những đám cưới diễn ra nơi công trường cũng mau lẹ theo tiến độ nhưng lại là kỷ niệm khó quên của cặp vợ chồng trẻ về tình thân đầm ấm chỉ có ở những công nhân xa quê coi nhau như ruột thịt. Mỗi cháu bé sinh ra được coi là “bông hoa nhỏ” trong các khu tập thể công nhân. Hiện tại, số “công nhân tí hon” có hơn 400 cháu. Năm 2006, một trường tiểu học và một trường mầm non được dựng lên tại thị trấn Mường La phục vụ cho con em cán bộ công nhân đang làm việc tại công trình thủy điện.

"Công nhân tý hon" tại công trường.

Tại khu tập thể công ty Sông Đà 7, ai cũng biết mối tình của đôi vợ chồng trẻ Phạm Văn Quân và Vũ Thị Nguyên. Anh chị yêu nhau từ công trình đường Hồ Chí Minh nhưng đám cưới diễn ra trên công trường thủy điện Sơn La. Chồng lái máy xúc, vợ làm công nhân điện, thu nhập mỗi tháng khoảng 6 triệu đồng. Trong căn phòng tập thể xinh xắn khá đủ tiện nghi, bên cậu con trai vừa tròn 4 tuổi, anh Quân cười mãn nguyện: “Cuộc sống công nhân 3 ca 4 kíp nên chả gì bằng lấy được vợ cùng đơn vị, chồng đi công trình nào, vợ cũng theo công trình đấy”.

Những gia đình nhỏ như Quân-Nguyên là mơ ước của người công nhân thủy điện. Nhiều đôi vợ chồng, do hoàn cảnh công trình mà chồng phải xa vợ, bố mẹ phải xa con cái. Công ty Sông Đà 10 còn có những trường hợp: chồng làm ở Thủy điện Sơn La còn vợ lại làm ở thủy điện Yali, một năm số lần gặp nhau tính trên đầu ngón tay. Anh Nguyễn Trọng Thăng, công nhân khoan, quê Thanh Hóa, năm làm công nhân thủy điện thì đã đón hơn 20 cái Tết trên công trường. Năm nay, anh lại vào ca trực Tết: “Tôi đã quen với Tết công trường rồi. Chỉ tội những chú trẻ mới vào nghề, đêm ba mươi nhận tin nhắn, điện thoại của người yêu mà rưng rưng khóc”.

(Theo Đất việt)