WiMAX.jpg

Ông Ray Owen, Giám đốc Công nghệ khu vực châu Á - TBD của Motorola chia sẻ với BĐVN về vấn đề này.

Trong các cuộc hội thảo gần đây, LTE (4G) đã được các chuyên gia giới thiệu tại Việt Nam, trong khi đó Việt Nam mới chuẩn bị cấp phép 3G. Vậy đề cập đến 4G có phải là quá xa vời với Việt Nam hay không?

Ray-Owen.jpg

Tôi cho rằng LTE là câu chuyện của thời điểm sau năm 2010. Tuy nhiên hiện nay, Motorola đã và đang có một vài thử nghiệm dịch vụ LTE cũng như các thiết bị thử nghiệm tại một số nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Chúng tôi cũng chuẩn bị một số sản phẩm để đưa ra thương mại vào năm 2009. Đây là thông điệp mà chúng tôi muốn đưa ra và là sự cam kết của Motorola đối với sự phát triển công nghệ, đặc biệt là LTE - công nghệ tiên tiến vượt xa so với công nghê 3G. Hiện có rất nhiều nước ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như các nước đang phát triển có những đầu tư sớm cho công nghệ 3G mà có lẽ là chưa nhìn thấy sự phát triển vượt xa của LTE. Do vậy, các chuyên gia đề cập đến 4G tại Việt Nam nhằm mục đích để thị trường này theo dõi sự phát triển trên thế giới và để có những nhận định đúng đắn đối với 3G hay đối với 4G.

Cũng có ý kiến cho rằng, Việt Nam có thể bỏ qua 3G tiến thẳng lên 4G trong thời gian tới. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?

Có một thực tế ở một số nước, công nghệ 3G chưa đựợc triển khai, nhưng người ta đã đặt ra vấn đề băn khoăn, liệu có phải đi từng bước từ 2G, 3G để tới 4G không trong khi 4G đang sắp sửa được hiện thực hóa. Trên thế giới người ta quan sát thấy rằng, hiện nay các công nghệ 3G chỉ còn ảnh hưởng ở những nơi có sự hạn chế về dung lượng thoại của mạng 2G. Do đó, 3G là công nghệ có thể bổ sung dung lượng thoại cho mạng 2G. Với câu hỏi có thể bỏ qua 3G tiến thẳng tới 4G không? Tôi không nghĩ đó là một ý tưởng tốt và chúng tôi cũng tin rằng, các quan chức của Bộ TT &TT cũng như Chính phủ Việt Nam cũng hiểu điều này. 3G chỉ thích hợp khi được triển khai có chọn lọc, cẩn thận và học hỏi bài học kinh nghiệm của những nước đã triển khai 3G trước đó, đặc biệt là những thất bại khi triển khai 3G ở châu Âu. Triển khai 3G một cách chọn lọc là triển khai giúp mở rộng, tăng cường dung lượng thoại mà nó đang bị hạn chế ở mạng 2G. Bên cạnh đó, nó có thể giúp cho việc roaming của thuê bao các di động nước ngoài vào Việt Nam cũng như là mở rộng mạng lưới ở một số khu vực mà hiện nay đang bị hạn chế hay chưa được phủ sóng.

WiMAX bắt đầu vào Việt Nam từ năm 2006, nhưng đến bây giờ các doanh nghiệp như Viettel, VNPT, VTC… cung cấp WiMAX chỉ mang tính thử nghiệm nhiều hơn để tính đến yếu tố thương mại do một số trở ngại. Vậy theo ông, khả năng thương mại hóa công nghệ này ở Việt Nam ra sao?

Việc triển khai WiMAX tại các nước trên thế giới khi có giấy phép về cung cấp tần số, người ta nhìn thấy ngay về triển khai thương mại về dịch vụ của nó. Ví dụ như ở Malaysia, Pakistan. ở Pakistan, WiMAX được thương mại hóa khoảng 1 năm và đó là mạng được triển khai trên toàn quốc cung cấp các dịch vụ băng rộng cho người dân với giá thấp. Do vậy, nó có ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế cũng như sự phát triển ở Pakistan. Tại Malaysia, Motorola thực hiện mạng WiMAX với hãng Veston và cũng đã phát triển tương tự như ở Pakistan.

Còn ở Việt Nam việc cung cấp giấy phép chỉ mang tính thử nghiệm, do vậy việc triển khai mang tính chọn lọc. Khi giấy phép thử nghiệm này được chuyển sang giấy phép thương mại thì WiMAX sẽ được triển khai rộng rãi hơn. Lúc đó, mọi người sẽ nhận thấy lợi ích và ưu điểm của dịch vụ này ảnh hưởng rộng tới thị trường Việt Nam như thế nào. Tôi cũng đồng ý với ông về việc các thiết bị đầu cuối chưa được phổ biến rộng tại Việt Nam. Năm 2006, giá của các thiết bị đầu cuối quá cao, chưa thích hợp cho việc phổ cập thiết bị cho tất cả người dân. Nhưng đến năm 2008, giá của các thiết bị đầu cuối giảm xuống rất nhiều, thậm chí giá của các thiết bị này bây giờ cũng chỉ bằng giá như các thiết bị dân dụng. Vì vậy, việc mua các thiết bị này đối với người dân không phải là vấn đề khó khăn nữa. Riêng Motorola đã xuất hơn 1 triệu thiết bị đầu cuối với giá thành được giảm đến mức thấp nhất. Và đây là yếu tố quyết định khả năng phổ cập của các thiết bị đầu cuối của WiMAX trong tương lai tại Việt Nam.

Mặc dù hai khó khăn là cấp phép thử nghiệm và thiết bị đầu cuối đã được giải quyết, nhưng chúng ta không thể nói rằng WiMAX không gặp khó khăn trong các vấn đề khác nữa. Ví dụ khó khăn của WiMAX là cần đầu tư một lượng vốn lớn, nhưng với điều kiện nền kinh tế hiện nay sẽ không dễ dàng có một dự án vốn lớn như vậy. Tóm lại năm 2006 chúng ta gặp phải những khó khăn về mặt công nghệ, tần số, thiết bị đầu cuối. Nhưng hiện WiMAX lại vướng vào những vấn đề khác về mặt thực hiện và triển khai công nghệ này.

Dự kiến dự án triển khai WiMAX với VNPT vào cuối năm 2007, nhưng phải đến cuối năm 2008 mới được tiến hành. Vậy đâu là nguyên nhân thưa ông?

Motorola thử nghiệm WiMAX với VNPT với quy mô gồm 6 trạm BTS và 100 thuê bao tại hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh. Việc thử nghiệm này chậm là bởi quy trình đưa thử nghiệm WiMAX vào Việt Nam phải có đầy đủ các điều kiện về giấy phép cho phép thử nghiệm và giấy phép nhập khẩu các thiết bị. Tháng 3/2008, Bộ TT &TT mới cấp giấy phép cho VNPT được phép thử nghiệm WiMAX ở tần số 2.5 MHz. Cho dù các thiết bị của chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng tại nước ngoài song chúng tôi cũng phải xin các giấy phép nhập khẩu nên ảnh hưởng tới tiến độ.

Theo ông, 3G nên triển khai chọn lọc, vậy việc triển khai WiMAX có nên triển khai chọn lọc hay không?

Tôi cho rằng việc triển khai WiMAX không cần phải chọn lọc giống như việc triển khai 3G, vì đây là hai công nghệ hoàn toàn khác nhau với những ứng dụng khác nhau và hướng tới các đối tượng sử dụng cũng khác nhau. 3G là công nghệ viễn thông và chủ yếu phục vụ cho điện thoại di động, thiết bị đầu cuối cũng như là một số các ứng dụng băng rộng di dộng đắt tiền hướng tới các đối tượng có thu nhập cao. Còn WiMAX dùng để cải thiện những kết nối băng rộng cho toàn bộ mọi tầng lớp. Do vậy WiMAX và 3G có triển khai khác nhau về vùng phủ sóng. WiMAX với mục đích cải thiện truy cập băng rộng cho công chúng, qua đó giúp nâng cao GDP.

Khi chúng ta so sánh về việc đầu tư giữa một bên là WiMAX với công nghệ dây cố định khác thì chúng ta có thể nhìn thấy ngay là với công nghệ này việc đầu tư sẽ rất thấp đặc biệt ở những khu vực vùng sâu, vùng xa. Nhưng đối với các thành phố đã có sẵn hạ tầng mạng Internet thì ADSL có hiệu quả kinh tế hơn WiMAX. Tuy nhiên ADSL có những hạn chế về tốc độ, chất lượng của dịch vụ. Tốc độ băng rộng tại nhà phụ thuộc vào chất lượng của dây cáp cũng như khoảng cách giữa tổng đài và nơi bạn sử dụng dịch vụ ADSL, càng xa thì tốc độ càng kém. Còn đối với WiMAX nó là một vấn đề hoàn toàn khác, tốc độ và chất lượng tại điểm ở ngay sát cột ăng ten của WiMAX cho đến vùng biên của cột phủ song đó có chất lượng là như nhau. Theo tôi WiMAX là lựa chọn tốt và tin cậy để triển khai.

Cảm ơn ông!

Thực hiện

Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 5 ra ngày 12/1/2009