![]() |
| VNPT, Viettel và EVN Telecom là những DN tích cực triển khai thực hiện chương trình phổ cập điện thoại, Internet đến các vùng khó khăn. Ảnh: THANH HẢI |
Gồm: hơn 4 triệu thuê bao điện thoại cố định, 70 nghìn thuê bao Internet, 4.200 điểm truy cập viễn thông công cộng với tổng kinh phí lên đến 50 triệu USD/năm.
Góp sức rút ngắn khoảng cách số
Khi mở cửa thị trường viễn thông, các DN viễn thông luôn hướng tới thị trường tiềm năng, các địa bàn dễ đầu tư mạng lưới, khách hàng đông có sức mua lớn. Điều này cũng có nghĩa những người dân vùng sâu, vùng xa khó tiếp cận với các dịch vụ viễn thông và CNTT. Và vì thế Nhà nước cần có chính sách khuyến khích các DN đầu tư phát triển tại các vùng khó khăn nhằm rút ngắn khoảng cách số là vấn đề mà nhiều nước trên thế giới đã quan tâm, triển khai. Hiện Việt Nam có 14 nhà cung cấp các dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, 41 DN cung cấp dịch vụ Internet và hàng nghìn DN CNTT hoạt động trong các lĩnh vực phần cứng, phần mềm và công nghiệp nội dung. Tính đến cuối năm 2009, tổng số thuê bao điện thoại trên cả nước là 107,5 triệu, di động chiếm 85,7%, mật độ điện thoại đạt 126,4 máy/100 dân. Cả nước có khoảng 22,6 triệu người sử dụng Internet, đạt mật độ 26,5%; tổng số thuê bao băng rộng là 2,82 triệu, đạt mật độ 3,31%. Trong sự phát triển nhanh của ngành viễn thông, thể hiện ở chính những con số này, có sự đóng góp không nhỏ trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đến vùng công ích của Nhà nước.
Năm 2004, Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích Việt Nam (VTF) ra đời là một nhu cầu cần thiết khi mà Việt Nam xác định phổ cập dịch vụ viễn thông là một trong ba chính sách của Chính phủ về điều tiết viễn thông. Quỹ VTF có nhiệm vụ tiếp nhận, huy động các nguồn tài chính, triển khai tài trợ cho các chương trình dự án cung cấp dịch vụ viễn thông công ích (VTCI), tham gia xây dựng và triển khai các chương trình dự án về cung cấp dịch vụ VTCI.
Sau 5 năm hoạt động, Quỹ VTF đã xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách phổ cập dịch vụ thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến tổ chức hoạt động của Quỹ. Thực hiện chương trình cung cấp dịch vụ VTCI đến năm 2010, đã hoàn thành vượt mức mục tiêu phổ cập dịch vụ. Hiện tại, Quỹ trực tiếp hỗ trợ cho DN và người dân ở các vùng công ích thuộc hơn 4.300 xã với khoảng 21 triệu dân là hơn 4 triệu thuê bao điện thoại cố định, 70 nghìn thuê bao Internet, 4.200 điểm truy cập viễn thông công cộng với tổng kinh phí lên đến 50 triệu USD/năm.
Đến nay, mật độ thuê bao điện thoại cố định tại các vùng công ích đã tăng từ gần 2,5 máy/100dân (cuối năm 2004) lên 8,87 máy/100 dân (hết năm 2009). Mật độ thuê bao Internet tại các vùng VTCI tăng từ 0,018 máy/100 dân lên 0,32 máy/100 dân. Các điểm truy nhập viễn thông công cộng, bao gồm cả dịch vụ điện thoại và Internet được duy trì. Người dân ở vùng VTCI có điều kiện sử dụng tốt hơn các dịch vụ viễn thông và Internet phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, từ đó giúp nâng cao dân trí, góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh quốc phòng.
Với vai trò hỗ trợ cung ứng dịch vụ VTCI, Quỹ đã phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông là VNPT, Viettel, EVN Telecom, Vishipel thực hiện kế hoạch cung cấp dịch vụ VTCI hai năm 2009 và 2010. Bộ TT&TT đặt hàng các DN thực hiện các chỉ tiêu sau: Phát triển mới 520.497 máy điện thoại tới các hộ gia đình; hỗ trợ tiền thuê bao để duy trì 3.730.566 thuê bao điện thoại cố định tại các vùng công ích. Phát triển mới 61.421 thuê bao Internet, hỗ trợ kinh phí để duy trì 75.500 thuê bao Internet đang hoạt động. Phát triển mới 235 điểm truy nhập điện thoại cộng cộng, hỗ trợ kinh phí để duy trì 4.718 điểm truy nhập điện thoại công cộng. Phát triển mới 199 điểm truy nhập Internet công cộng và hỗ trợ duy trì 785 điểm truy nhập Internet công cộng. Phát triển mới 3.000 máy thu phát sóng vô tuyến điện HF – công nghệ thoại sử dụng cho tàu cá, hỗ trợ duy trì 16 đài duyên hải phục vụ thông tin trên biển.

Không thể thiếu sự phối hợp của doanh nghiệp
Từ năm 2010 – 2015, định hướng phát triển của Nhà nước về viễn thông liên quan đến phổ cập dịch vụ là thúc đẩy ứng dụng Internet trong các cơ sở giáo dục, bệnh viện, cơ sở nghiên cứu, ưu tiên phát triển viễn thông đối với nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, vùng có điều kiện KTXH đặc biệt khó khăn.
Bám sát định hướng trên, năm 2010 Quỹ Viễn thông công ích đặt mục tiêu hoàn thiện Đề án điều chỉnh, bổ sung cơ chế huy động và sử dụng Quỹ Dịch vụ VTCI nhằm đẩy mạnh lộ trình số hóa truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình, đồng thời đảm bảo mục tiêu phát triển VTCI; triển khai chương trình VTCI giai đoạn 2010 – 2015; Chương trình Bưu chính nông thôn và Chương trình Phát thanh và Truyền hình nông thôn. Đồng thời, Quỹ sẽ sớm triển khai công tác tổng kết, đánh giá hiệu quả, kết quả 5 năm thực hiện chương trình cung cấp dịch vụ VTCI giai đoạn 2005 -2010; tiến hành điều tra thống kê hiện trạng phổ cập các dịch vụ (điện thoại, Internet, nghe nhìn) trên toàn quốc.
Có thể nói kết quả hoạt động của Quỹ VTCI trong 5 năm qua đã khẳng định sự ra đời của Quỹ là hoàn toàn cần thiết. Và sự cần thiết này sẽ còn được khẳng định rõ nét hơn trong những năm tới.
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 1-2-3 ra ngày 1/1/2010
