
Vậy mà tôi vẫn nghĩ, chưa cái rét nào bằng cái rét ở Phja Khao (Chợ Đồn, Bắc Cạn). Thật ra tôi cũng chỉ dựa vào cảm giác của mình. Vả lại, cái cảm giác ấy còn bị chi phối bởi điều kiện sống. Ví như, đói ăn, thiếu mặc, thì rét ít cũng thành rét nhiều… Cứ lan man nghĩ về cái rét, ký ức đã đưa tôi trở về một miền đất thời thơ ấu của mình.
Miền đất ấy, người thì gọi là Khai Khao, người lại gọi là Phia Khao. Sau này thì tôi hiểu, nó chính là Phja Khao, theo phát âm của tiếng Tầy. Một anh bạn người Tầy, giảng giải rằng: Phja Khao, tiếng Tầy là núi trắng. Ở vùng núi phía Bắc nước ta, có nhiều ngọn núi mang tên là Phja Khao. Ví như ở tỉnh Bắc Cạn, thì cả huyện Chợ Đồn và huyện Ngân Sơn, đều có đỉnh Phja Khao. Lại nữa, cũng cùng là Núi Trắng, nhưng có ngọn trắng do mầu đá, có ngọn lại trắng bởi sương mù che phủ. Ngọn Phja Khao mà tôi đang kể, thuộc loại thứ hai.
Về độ cao, Phja Khao không bằng những ngọn khác trong cùng vòng cung, như Nam Khiên (1.640m), Phja Bi-ooc (1.578m), nhưng nó cũng thuộc loại “liền anh, liền chị”. Vào những ngày mây thấp, nhìn từ xa, Phja Khao giống như một người khổng lồ, đội chiếc mũ bông bồng bềnh, trắng muốt, chạm tới tận trời. Ngược lại, vào những ngày trời quang mây tạnh, đứng ở Phja Khao, nhìn ra xa, chỉ thấy núi non trùng điệp nối tiếp nhau cho đến tận xa mờ, như vệt khói lam chiều.
Tôi tới Phja Khao từ năm ba tuổi và sống ở đó hơn mười cái tết. Số là cha mẹ chúng tôi lên đây làm phu mỏ cho người Pháp và mang theo cả gia đình mình. Khi Nhật đảo chính Pháp, thì mỏ tan. Hàng nghìn phu mỏ tùy nghi mà đi. Những người không đi đâu được, thì ở lại, lần hồi kiếm sống qua ngày. Cuộc sống của họ trong những năm tháng đó thật cơ hàn. Ăn, thì bữa rau, bữa cháo. Mặc, thì quanh năm chỉ phong phanh quần áo vải; chân không dép, không giầy. Đêm đông cũng chỉ đắp chiếu hoặc là một mảnh chăn sui. Rét quá, thì đốt lửa. Có lẽ vì thế mà tôi cho là ở Phja Khao rét nhất trên đời.
![]() |
| XN Khai thác đá ở Phia Khao |
Ngày còn nhỏ, tôi từng tò mò tìm đến để xem những nơi người Tàu và người Pháp đã khai thác. Theo người lớn bảo, thì người Tàu chủ yếu lấy bạc và vàng, còn người Pháp thì lấy chì, kẽm và những thứ khác lẫn trong đó. Chỗ giống nhau giữa người Tàu và người Pháp, là đều đào lò lấy quặng rồi luyện kim. Nhưng lò của người Tàu thì nhỏ, thấp, nhiều chỗ chỉ vừa người chui; còn lò của người Pháp, thì cao, rộng, xe goòng ra vào được. Về luyện kim, người Tàu nấu quặng ngay tại cửa lò. Bạc, vàng họ mang về nước, để lại những khoảng trống trong lòng đất và những bãi xỉ, mà người Phja Khao gọi là “cứt sắt”. Ngày nay, ai đến Phja Khao, mà thấy bãi xỉ gồm những mảnh nhỏ, sắc như dao, thì tìm xung quanh, sẽ thấy có lò Tàu. Người Pháp thì khác. Họ không luyện kim ngay ở Phja Khao, mà chuyển đi luyện ở nơi xa. Để làm việc đó, người Pháp đã xây dựng một hệ thống cáp treo và hai tuyến đường sắt, một tại mỏ để gom quặng và một để vận chuyển quặng về Tuyên Quang, rồi từ đó chở bằng đường thủy đến nơi luyện ở tỉnh ngoài. Xem vậy, thì người Tàu khai thác kiểu cò con, ăn xổi; người Pháp khai thác có qui củ hơn. Nhưng dù khai thác kiểu gì, rốt cuộc tài nguyên quí của ta cũng bị họ lấy đi.
Cách đây chưa lâu, tôi có dịp về Phja Khao, thấy một doanh nghiệp nhà nước đang khai thác quặng. Thế là tài nguyên nước mình, đã do mình khai thác. Nhưng buồn thay, cũng là kiểu khai thác tạm bợ, chỗ nào có quặng thì họ đào bới, chẳng theo qui phạm nào. Gần đây lại nghe nói, tình trạng “Quặng tặc” đã và đang hoạt động ở vùng mỏ này. Người ta dùng xe máy cỡ lớn, chở quặng từ Phja Khao ra bán cho đầu mối nào đó. Đầu mối này thu mua quặng rồi bán cho nước ngoài.
Thế đó, chiến tranh đã đi qua mấy chục năm, đất nước đã yên hàn, mà sao bây giờ lại có lắm thứ “tặc” vậy? Nào là “lâm tặc”, “vàng tặc”, rồi “quặng tặc”, thậm chí cả “cát tặc” nữa. Ngẫm ra, thì “tặc” nào cũng là ăn cắp tài nguyên của đất nước và làm ảnh hưởng xấu đến môi trường. Nhưng những thứ “tặc” ấy, cũng chỉ là một khâu trong cái sợi dây làm ăn mà thôi. Trong sợi dây này, đứng đằng sau các “tặc” là các “đại gia”. Thực tế cho thấy, không có các “đại gia” đứng đằng sau, thì hoạt động của các “tặc” cũng trở nên vô nghĩa. Còn đằng sau các “đại gia” là gì, để họ có thể hợp pháp được cái không hợp pháp, thì tôi không biết.
Nói đến “đại gia”, tôi chợt nhớ tới những câu chuyện còn nóng hổi. Một ông bạn say sưa kể về một “đại gia” tuổi đời còn rất trẻ, đang xây một tòa nhà gần hai chục tầng để chuẩn bị kinh doanh nghề gì đó, ở một nơi đắc địa, của thành phố vừa lên loại I. Ông bạn ấy bảo, đây chỉ là một trong số nhiều cái nhà mà “đại gia” này đang có. Sở dĩ “đại gia” này “mạnh” như vậy, là vì anh ta đang là giám đốc một công ty khai thác khoáng sản, trong đó có vàng, ở nhiều địa phương. Một ông khác kể: Cháu ông có một người bạn là cai vàng có cỡ. Một lần trong bữa rượu, anh cai vàng này đã tiết lộ về số vàng của mình là thiếu một cân bảy, thì tròn một tấn. Tôi chợt nghĩ, khi người ta có trong tay một tấn vàng, thì làm gì mà chẳng được. Một người khác nữa, lại kể: Có một “đại gia” đã lập dự án xây nhà máy luyện kim để xin cấp mỏ. Khi có mỏ rồi, thì “đại gia” này sẽ vừa chế biến, vừa xuất khẩu quặng…
Những chuyện như vậy thì nhiều, nhưng chỉ ở bên bàn trà. Nó không có dấu son nào đảm bảo về sự chính xác cả. Tuy nhiên, ai nghe cũng thấy, lĩnh vực khai thác khoáng sản, đã và đang là miếng mồi giầu dinh dưỡng. Nhiều người đặt câu hỏi: Trong việc khai thác và xuất khẩu khoáng sản như hiện nay, ai được, ai mất? Đã có bao nhiêu giá trị của hoạt động này, được tính vào “Gi-đi-pi” của đất nước? Và, người ta đã tính và thu thuế thế nào?
Đến đây, tôi chợt nhận ra cái tật của tuổi già. Từ rét, nghĩ đến quặng; từ quặng nghĩ đến “tặc”; rồi từ “tặc” lại nghĩ đến cái sự quản lý đất nước ngày nay. Ôi! Cứ nghĩ lan man thế này, thì còn gì là vui xuân nữa? Tôi cố xua đi những gì không vui đang hiện hữu, để nghĩ về những điều tốt đẹp, mà xuân mới sẽ mang lại.
- Nguyễn Văn
