Tắc mạch ối

    Tắc mạch ối hay thuyên tắc ối là một cấp cứu sản khoa hiếm gặp tuy nhiên lại vô cùng nguy hiểm có tỷ lệ tử vong cao, chiếm 1-12/100000 ca dinh, có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào trong khi mang thai hoặc sau khi sinh xong , không thể đoán trước và dự phòng được.

    Tắc mạch ối là gì?

    Tắc mạch ối là do nước ối, tế bào thai nhi, tóc, lông tơ hoặc các mảnh tổ chức thai lọt vào tuần hoàn máu mẹ thông qua hệ thống tĩnh mạch nơi nhau thai bám gây ra một phản ứng dị ứng. Phản ứng này gây ra suy hô hấp và suy tuần hoàn cấp tính cho mẹ. Giống như một sốc phản vệ. Cơ chế của hiện tượng này chưa thực sự rõ ràng.

    Tắc mạch ối ở sản phụ thường xảy ra trong chuyển dạ nhưng cũng có thể xảy ra trong khi mổ lấy thai, sảy thai, chấn thương bụng, chọc hút nước ối, ngay sau khi đẻ, sau mổ lấy thai. một số lý do hay gặp như răng cài răng lược, vỡ tử cung, xót rau.

    Thời điểm tắc mạch ối thời điểm xảy ra tắc mạch ối cũng rất khác nhau tùy trường hợp:

    • 12% trường hợp xảy ra tắc mạch ối khi màng ối còn nguyên.

    •  70% trường hợp xảy ra trong chuyển dạ.

    •  11% trường hợp xảy ra sau sinh qua đường âm đạo.

    •  19% trường hợp xảy ra trong mổ lấy thai khi đã có chuyển dạ hay khi    chưa có chuyển dạ.

    Các nghiên cứu ở thời điểm hiện tại cho rằng tắc mạch ối tuy hiếm gặp là một biến chứng sản khoa nguy hiểm nguy cơ tử vong cho mẹ lên đến 90%, tử vong cho con từ 20-60%. Trong số những trường hợp này nếu được chẩn đoán và xử trí kịp thời vẫn có thể cứu sống mẹ và thai nhi.

    Cơ chế do 3 hoàn cảnh sau:

    • Vỡ màng ối.

    • Vỡ tĩnh mạch của tử cung hay cổ tử cung.

    • Áp lực buồng tử cung cao hơn áp lực tĩnh mạch.

    Vì vậy việc cập nhật chẩn đoán và đưa ra hướng xử trí khẩn trương, đúng đắn là vô cùng cần thiết cho các nhà sản khoa.

    • Giai đoạn đầu: triệu chứng khởi đầu là suy hô hấp, tím tái xảy ra đột ngột trong vài phút, tiếp đến là tụt huyết áp, choáng, phù phổi, biểu hiện thần kinh như lú lẫn mất ý thức và co giật. Theo nghiên cứu có khoảng 40% số bệnh nhân tắc mạch ối qua được giai đoạn này.

    • Giai đoạn sau: Nếu người bệnh qua được giai đoạn đầu thì đến giai đoạn này sẽ có biểu hiện chảy máu dữ dội nhiều nơi do đờ tử cung, đông máu rải rác trong lòng mạch, chảy máu từ tử cung không cầm khiến người bệnh rơi vào tình trạng sốc mất máu.

    Bình thường nước ối hoàn toàn nằm trong buồng ối, không đi vào tuần hoàn của người mẹ. Khi hàng rào giữa khoang ối và tuần hoàn của người mẹ bị phá vỡ làm cho nước ối đi vào hệ tĩnh mạch của người mẹ qua các tĩnh mạch ống cổ tử cung, qua vị trí rau bám đã bong, qua nội mạc tử cung hay qua nơi tử cung bị chấn thương. Tuy nhiên không phải trường hợp nào nước ối đi vào tuần hoàn người mẹ cũng gây ra tắc mạch ối. Tỷ lệ này chỉ gặp ở một số ít thai phụ. Bệnh có thể liên quan đến phản ứng dị ứng. Do vậy tắc mạch ối chỉ gặp ở một tỉ lệ rất nhỏ những phụ nữ làm cho người ta nghĩ đến vai trò của mức độ, số lượng mảnh mô thai, loại mảng phôi thai hay một số yếu tố nào đó của người mẹ.

    Nước ối và tế bào thai qua tĩnh mạch đi tới tim và phổi của người mẹ với một lượng đủ gây ra tắc mạch hay co thắt mạch phổi nghiêm trọng. Biểu hiện trên lâm sàng là tình trạng suy hô hấp, suy tuần hoàn nghiêm trọng.

    • Sản phụ trên 35 tuổi.

    • Con rạ nguy cơ cao hơn con so.

    • Mổ lấy thai, đẻ có can thiệp thủ thuật Forceps, giác hút, chọc ối.

    • Đa ối, đa thai, nhau tiền đạo, nhau bong non, sản giật....

    • Tổn thương tử cung hoặc cổ tử cung.

    • Suy thai, thai lưu.

    • Chuyển dạ với cơn co cường tính, chuyển dạ được giục sinh.