Khoảng từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, Cao nguyên đá Đồng Văn (tỉnh Tuyên Quang) sẽ bước vào mùa khô. Đây cũng là thời điểm mà người dân ở nhiều địa bàn ám ảnh với cảnh phải chắt chiu từng giọt nước nước sinh hoạt.
Lời tòa soạn
Nước sinh hoạt là nhu cầu thiết yếu của mỗi gia đình, nhưng tại nhiều vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những hạn chế về điều kiện tự nhiên, hạ tầng và công tác quản lý, vận hành khiến bao năm nay, vào mùa khô, bài toán nước sinh hoạt vẫn luôn là nỗi lo thường trực.
Báo VietNamNet trân trọng gửi tới bạn đọc tuyến bài: “Giải ‘bài toán’ đưa nước sinh hoạt về miền núi”, phản ánh thực trạng, những khó khăn trong việc bảo đảm nguồn nước sinh hoạt và những vấn đề đặt ra từ thực tế, qua đó góp thêm góc nhìn về các giải pháp để người dân vùng miền núi được tiếp cận nguồn nước sạch, ổn định và bền vững.
Hùng vĩ nhưng khắc nghiệt Phải qua mấy năm công tác và gắn bó với Cao nguyên đá Đồng Văn (Cao nguyên đá), tôi mới tự cắt nghĩa được vì sao nơi đây lại nhiều khó khăn đến thế! Ở nơi mùa hè nắng nẻ cành lim, mùa đông rét co hòn đá, nhìn đâu cũng chỉ thấy điệp trùng đá xám đan xen nhau, chót vót, vời vợi…
Ông Giàng Nỏ Pó - Trưởng Ban công tác mặt trận thôn Séo Lủng, xã Sà Phìn chậm rãi kể: Cuộc sống hàng trăm năm nay trên vùng Cao nguyên đá này là cuộc đấu tranh sinh tồn với mưa gió tự nhiên.
Khó, khổ vậy cũng chỉ để giữ cho bằng được bụm đất bé bằng bàn tay còn sót lại trong các hốc đá lô nhô, lởm chởm, chằng chịt, để cây ngô có thể lớn lên mà cho bắp.
Địa hình núi đá đặc trưng khiến việc tìm và tích trữ nước sinh hoạt ở Cao nguyên đá Đồng Văn gặp nhiều khó khăn. Ảnh: Vũ Mừng
Chắt chiu là thế, nhưng rồi ở Séo Lủng, nhiều diện tích đất trồng ngô cũng dần bị bỏ lại vì không có nước chăm sóc. Về sau, người dân chuyển sang trồng bắp cải, loại cây có thể tận dụng sương đêm để sinh trưởng. Bắp cải cho giá trị kinh tế cao hơn ngô, nhưng việc chuyển đổi cây trồng cũng cho thấy một thực tế: trên Cao nguyên đá, có đất chưa chắc đã có thể canh tác nếu thiếu nước.
Địa hình núi cao, chia cắt khiến việc tiếp cận nguồn nước gặp nhiều khó khăn, nhất là với các hộ dân sinh sống ở những khu vực xa trung tâm. Tại một số nơi, chỉ có vài nhóm hộ phân tán nên việc đầu tư công trình cấp nước tập trung cũng gặp nhiều trở ngại. Ảnh: Vũ Mừng
Nhưng cái khắc nghiệt của Cao nguyên đá không chỉ nằm ở những mùa đông giá buốt.
Lần đầu gặp tôi, Phó Chủ tịch UBND xã Khâu Vai Nông Văn Ngay đã nói về những ngày đi tìm nước: “Vùng đất này lửng lơ trên triền núi đá rỗng, mưa xuống thoát ngay vào khe, không đọng một vệt nước. Trước đây, người ta chỉ quanh năm ăn nước mưa trong hốc đá".
Người dân xã Khâu Vai lấy nước sinh hoạt từ hồ treo. Ảnh: Vũ Mừng
"Lâu không mưa thì lên núi, tìm vũng nước đọng, chắt từng gáo một. Tới khi hết rồi thì ra khe đá cách ba cây số mới thấy nước nguồn. Từ gà gáy đến sáng bạch cũng chỉ được hai lượt vác, đó là chưa kể mạch nước cũng thất thường, chẳng ai đoán được!”, Phó Chủ tịch UBND xã Khâu Vai chia sẻ.
Cao nguyên đá Đồng Văn nằm ở phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang, có diện tích tự nhiên trên 2.300 km2, dân số khoảng trên 250 nghìn người. Đây là địa bàn định cư của 17 dân tộc anh em sinh sống từ lâu đời; đông nhất là dân tộc Mông, tiếp đến là các dân tộc Dao, Giáy, Nùng, Tày, Lô Lô, Bố Y, Hoa…
Những ngày đi tìm nước ấy, với người dân Cao nguyên đá Đồng Văn, vẫn chưa phải chuyện của quá khứ.
Với nhiều hộ gia đình định cư trên đá như gia đình ông Vàng Nỏ Sính tại thôn Lũng Pù, xã Khâu Vai, việc tích trữ từng can nước vẫn là công việc quen thuộc mỗi ngày.
Nước mưa được hứng từ mái tôn, mái lá rồi dành dụm cho những ngày khô hạn. Khi nguồn nước trong nhà cạn, người dân lại phải gùi từng can 10 - 20 lít từ sông Nho Quế, leo ngược những cung đường núi đá cao 500 - 700m để đưa nước về nhà. Ngay cả nước dùng để nấu ăn cũng phải mua, với giá 5.000 đồng mỗi can 5 lít.
Từ nguồn vốn của các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025, hàng trăm hộ gia đình ở xã Cán Tỷ được hỗ trợ bồn chứa nước hợp vệ sinh. Ảnh: Vũ Mừng
Ai từng ghé Bãi đá mặt trăng, điểm check-in nổi tiếng gần Khu di tích Nhà Vương ở xã Sà Phìn, hẳn sẽ bắt gặp một hố nước nằm gọn giữa những khối đá. Du khách đến đây thường gọi vui là “Hồ nước thiên thạch”. Diện tích không lớn, nhưng hố nước này lại là nguồn nước sinh hoạt của nhiều hộ dân sống tập trung quanh khu vực. Cuối năm 2025, một nhóm khách du lịch lần đầu đến đây đã xả rác xuống hố do không biết công dụng của nó. Sự việc sau đó gây tranh cãi trên các diễn đàn, mạng xã hội. Nhóm du khách đã gửi lời xin lỗi tới cư dân địa phương, đồng thời giải thích rằng màu nước khác thường khiến họ không nhận ra đây là nơi người dân lấy nước sử dụng.
Ở thôn Há Lìa, xã Thắng Mố ông Sính Mí Chá kể nước được tính bằng từng can, từng xô. Những ngày mưa còn đỡ, người dân tranh thủ hứng đầy các bể chứa, chum, téc rồi dùng dè sẻn cho đến khi trời mưa trở lại. Vào mùa khô, một gia đình có khi phải chia nhỏ lượng nước ít ỏi cho cả nấu ăn, uống và sinh hoạt. Tắm giặt vì thế cũng phải tính toán, còn nước sau khi vo gạo, rửa rau thường được giữ lại để tận dụng cho việc khác.
Những hố nước nhỏ nằm giữa đá trở thành nơi người dân đặc biệt trân trọng. Mực nước xuống thấp, từng vũng nước đọng lại trong lòng đá cũng được tận dụng. Có nơi, người dân phải chờ nước từ khe rỉ ra từng chút rồi mới múc được một can. Cái khó không chỉ nằm ở việc đi lấy nước xa, mà còn ở chỗ không biết nguồn nước ít ỏi ấy sẽ đủ dùng đến bao giờ.
Nhiều nỗ lực nhưng vẫn thiếu nước Đối với nước sinh hoạt, các xã vùng cao như: Đồng Văn, Mèo Vạc, Sà Phìn, Phố Bảng… thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu nước, ảnh hưởng đến đời sống của khoảng 80.000 người dân.
Trước khi sát nhập, tỉnh Hà Giang cũ có 57/121 hồ treo không còn nước. Trong ảnh: Một hồ treo tại xã Mèo Vạc với mực nước thấp. Ảnh: Vũ Mừng
Trong giai đoạn 2021-2025, tỉnh đã hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 36.978 hộ và đầu tư 61 công trình nước sinh hoạt tập trung. Tuy nhiên, qua rà soát, hiện vẫn còn 13.059 hộ tại 16 xã gặp khó khăn về nguồn nước sinh hoạt.
Dù vậy việc đầu tư công trình chưa đồng nghĩa với nguồn nước được bảo đảm quanh năm. Trong đợt hạn được phản ánh vào tháng 6/2023, tại 4 huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang trước khi sáp nhập, có 57/121 hồ treo không còn nước; 36 hồ có mực nước dưới 30cm và 28 hồ có mực nước trên 30cm.
Nguyên nhân chủ yếu do địa hình núi đá vôi khó tích nước, nguồn nước phụ thuộc vào mưa theo mùa. Một số công trình chọn vị trí, thiết kế chưa phù hợp, thiếu nguồn bổ sung; công tác vận hành, duy tu còn hạn chế do thiếu cán bộ kỹ thuật và kinh phí. Thời tiết cực đoan như lũ quét, sạt lở cũng khiến nhiều công trình hư hỏng, xuống cấp.
Theo ông Nguyễn Văn Dưng - Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang, vấn đề nước sinh hoạt cho đồng bào các dân tộc trên Cao nguyên đá đã được quan tâm qua nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn và đạt những kết quả tích cực.
Tuy nhiên, với đặc thù địa hình núi đá, đồng bào dân tộc thiểu số phân bố không tập trung, nguồn nước ở nhiều nơi không ổn định, việc tiếp tục đầu tư cần căn cứ vào điều kiện và nhu cầu thực tế của từng địa bàn.
Tại xã Đồng Văn, ông Lê Trung Quyết - Phó Chủ tịch UBND xã cho biết, địa phương hiện có 37 công trình cấp nước, trong đó có 12 hồ chứa. Dù vậy, nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng. Địa phương đang kiến nghị nghiên cứu đầu tư thêm các hồ chứa tại các thôn, vừa phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch.
Còn tại Mèo Vạc, ông Thào Minh Sơn - Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết địa phương có hơn 21.000 nhân khẩu, trong đó khoảng 1.000 hộ dân tại các thôn vùng cao núi đá chưa tiếp cận được nguồn nước sinh hoạt ổn định.
Để giải quyết tình trạng này, địa phương đề xuất xây dựng thêm các hồ treo dung tích từ 2.000 - 3.000m³, kết hợp hệ thống thu nước mưa nhằm tăng khả năng dự trữ cho mùa khô.
Qua rà soát, các địa phương trên Cao nguyên đá đề xuất đầu tư 102 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, gồm 52 hồ treo, 21 bể nước dung tích 5.000m³ và 31 công trình đường ống dẫn nước, nâng cấp, sửa chữa, duy tu. Tổng kinh phí dự kiến hơn 812 tỷ đồng.
Du lịch phát triển kéo theo nhu cầu lớn hơn về hạ tầng, điều kiện sinh hoạt, trong đó là nguồn nước sinh hoạt tại xã Đồng Văn. Ảnh: Vũ Mừng
Theo ông Lê Anh Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Tuyên Quang, bảo đảm an ninh nguồn nước vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa mang tính lâu dài, nhất là tại những khu vực thường xuyên khan hiếm nước. Thời gian qua, tỉnh đã triển khai các kế hoạch về bảo đảm an ninh nguồn nước, với mục tiêu bảo đảm nước sinh hoạt cho người dân trong mọi tình huống, chủ động tích trữ, điều hòa nguồn nước và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Cùng với đầu tư công trình, ngành cũng hướng dẫn các mô hình cung cấp nước sạch quy mô hộ gia đình, phù hợp với những vùng khan hiếm, thiếu nước. Theo ông Dũng, hệ thống hồ chứa hiện cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, song các địa phương vẫn phải chủ động xây dựng lịch cấp nước, tích trữ và sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.
Thời gian tới, Chi cục Thủy lợi tiếp tục rà soát, đánh giá hiện trạng các nguồn nước và hệ thống công trình thủy lợi, cấp nước để tham mưu giải pháp phù hợp. Trọng tâm là sửa chữa, nâng cấp các hồ treo, bể chứa xuống cấp; nghiên cứu các công trình trữ nước, thu gom nước mưa, nâng khả năng điều tiết, cấp nước trong mùa khô. Đồng thời, ngành phối hợp nghiên cứu dự án hồ chứa nước đa mục tiêu tại các xã phía Bắc, tăng cường tuyên truyền sử dụng nước tiết kiệm và huy động thêm nguồn lực đầu tư cho vùng khó khăn.