Nhờ có tình yêu, sự chăm sóc tân tụy của người bạn đời, họ đã vượt qua được nỗi đau, làm nên những điều kỳ diệu...
Vết thương chiến tranh
Sẽ chẳng có gì đặc biệt nếu như người đàn ông trong ngôi nhà tầng 1 của khu tập thể B3 Đồng Xa không nằm liệt giường đến nay đã tròn 40 năm. Và đó cũng là quãng thời gian nhiều nước mắt, nhiều khó khăn nhưng hơn tất cả đó là niềm tin vào cuộc sống, vào hạnh phúc và tình yêu, đáng để cho nhiều thế hệ nhìn vào đó để soi lại chính mình.
Người phụ nữ trong ngôi nhà ấy đã nói với tôi: gia đình có người hy sinh trong chiến đấu, nỗi đau rồi cũng nguôi ngoai theo thời gian. Nhưng những người thương binh nặng giữa đời thường, ngày ngày cứ âm thầm chống chọi với những vết thương, thì nỗi đau của ông Trần Văn Huấn còn nhiều hơn thế. Nhưng nhờ có tình yêu, sự chăm sóc tân tụy của người bạn đời - bà Phạm Thị Tỵ ông đã vượt qua được nỗi đau đó. Tình yêu đã giúp họ vượt qua tất cả và làm nên được điều kỳ diệu...
Tháng 9-1967, người chiến sỹ lái xe Trần Văn Huấn của Đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn bị thương trong khi vận chuyển hàng vào miền Nam. Vết thương khá hiểm, viên đạn xuyên qua phổi và nằm luôn trong cột sống. 3 tháng sau, ông mới viết thư về cho gia đình báo cho vợ biết mình bị thương, vết thương đã lành nhưng... ông không đi lại được. Vợ ông - bà Phạm Thị Tỵ khi đó là y sỹ của trường Đại học Thương Mại, với chuyên môn nhất định, bà biết rằng ông đã bị thương vào cột sống đồng nghĩa với nguy cơ bị liệt, thậm chí còn có thể tử vong. Ông Huấn được chuyển ra Bắc, điều trị tại Viện Quân y 103 lúc đó đang sơ tán tại nhà dân. Cùng lúc ấy, bà Tỵ vừa trải qua một trận ốm nặng, nhưng tình yêu thương, sự quan tâm lo lắng đã khiến bà xin với trường cho đi chăm sóc chồng bị thương, vì trong suy nghĩ của bà, không nơi nào an dưỡng tốt hơn là ở bên người chồng thân yêu nhất của mình.
Vết thương chiến tranh khiến ông trở thành người thương binh hạng 1/4 đặc biệt, với tổn thương 92% sức khỏe. Ông được đưa đến trại chăm sóc thương binh nặng ở Bỉm Di, Tuyên Quang, cách Hà Nội 130km. Lần đầu tiên bà Tỵ đưa người con gái thứ 2, khi đó mới được 5 tuổi đến thăm bố, cô không nhận... cha mình. Rồi cô con gái bỏ trốn, cả bệnh viện phải đổ xô đi tìm. Mãi đến tối, mọi người mới tìm thấy cô ngồi trong góc nhà của khu điều dưỡng. Lời nói của con khiến ông bà đau thắt ruột: “Mẹ ơi! Mẹ nhầm rồi, bố con đẹp lắm, không phải người xấu xí này, mẹ đừng nhận”.
Người bố mà trong trí nhớ của cô là một người cao lớn, đẹp trai chứ đâu phải người đàn ông đang bị thương, nát da thịt kia. Bà nhớ lại: “Nó thèm có em bé lắm, chỉ gạ mẹ có em cho con bế. Thương con mà chẳng biết làm như thế nào, đành hứa bừa. Bố con vì phải đi chiến đấu nên bị thương. Con phải thương bố, khi nào bố lành, bố khỏi vết thương, bố về mẹ sẽ sinh em bé”. Rồi chuyện ăn Tết năm 1972 của cả gia đình ở trại điều dưỡng. Bà Tỵ khi đó chỉ là một người phụ nữ nặng có 39kg mà có thể chở được 2 người con, một đứa 10 tuổi và một đứa 13 tuổi cùng với 7 túi hàng, những sản phẩm của Hà Nội thời chiến và phải đạp xe 2 ngày mới đến nơi.
Những bài tập xoa bóp, bấm huyệt đã giúp ông có những chuyển biến nhất định, bà mừng lắm. Nhưng sau đó một thời gian, bệnh viện điều trị quyết định mổ để cắt đi một bên của một đốt cột sống, nơi có viên đạn “trú ngụ”. Nhưng thật không may cho ông, như một cuộc rượt đuổi, viên đạn không chịu nằm yên, nó chạy sang một vị trí khác như thử thách ông. Viên đạn không được lấy ra, vết thương rộng thêm, có đường kính hơn 20cm, gần bằng cái đĩa tráng men. Không những thế, cuộc đại phẫu diễn ra trong thời điểm chiến tranh, vào năm 1968, phương tiện không đầy đủ, nên vết thương của ông cứ chảy dịch, lở loét rất mất vệ sinh. Điều không may nữa khi phần liệt của ông lại chuyển lên cao hơn về phía đầu.
Cuộc hành trình từ cõi chết trở về
Năm 1973, khi chiến tranh kết thúc trên miền Bắc, cũng là 6 năm ông Huấn nằm viện, bà Tỵ quyết định đưa ông về nhà. Thời điểm đó chưa có chế độ đưa thương binh nặng về nhà chăm sóc, nên nhiều người cũng không đồng tình với quan điểm của bà, nhất là các bác sỹ. Có bác sỹ còn nói với bà, ông về nhà sẽ không sống nổi vì không có điều kiện như ở trại điều dưỡng, ngoài tiêu chuẩn thương binh thì người nhà chăm sóc không có kinh phí. Nhưng bà vẫn quyết tâm đưa chồng về nhà để chăm sóc.
Thời gian ông về nhà là bắt đầu những tháng ngày khó khăn của gia đình. Thời chiến rồi đến thời bao cấp, sinh hoạt đã khó khăn, lại thêm một thương binh nặng trong nhà, 6 tháng liền không có tiền chế độ của ông, chỉ có tiền lương y sỹ của bà, rồi lại thêm 19 năm ròng không có chế độ dành cho người chăm sóc thương binh nặng tại nhà. Những người con lớn dần lên, nhưng cũng không đỡ đần mẹ được nhiều vì còn bận học hành. Không ai nghĩ rằng ông có thể sống đến ngày hôm nay dưới bàn tay chăm sóc của người phụ nữ đảm đang ấy. Mọi sinh hoạt của ông đều diễn ra trên giường cá nhân. Và cứ thế, bà trở thành nữ y tá tận tụy thay băng, tiêm thuốc, lau rửa hàng ngày suốt hơn 30 năm trời, kiểm tra sức khỏe mỗi khi ông ốm đau, thậm chí còn giúp ông làm cả cái công việc bình thường nhất của con người đó là... đi vệ sinh.
Thấy sự chăm sóc tận tụy của vợ, ông - một chiến sỹ từng vào sinh ra tử, kiên cường trong chiến đấu đã rơi nước mắt. Được biết những việc làm của bà Tỵ đối với chồng, cách đây 3 năm, một người bác sỹ ở Bệnh viện 354 đã đảm nhiệm việc mổ vết thương, đặt ống dẫn cho ông để nước từ vết thương không bị rỉ ra, đỡ mất vệ sinh và cũng để bà đỡ vất vả hơn.
Ông Huấn cho biết ngoài việc chăm sóc chồng tận tụy, vợ ông đã từng “vận động” các khoa phòng trong trường Đại học Thương mại mong nhận được sự ủng hộ để bà có một căn nhà tiêu chuẩn 18m2 đặc biệt của trường dành cho giáo viên. Và một điều kiện được đặt ra nếu như trong vòng 1 ngày bà không làm thêm nhà trên khu đất trống phía trước, thì trường sẽ chia khu đất đó cho người khác. Vậy là ngay trong đêm đó mẹ con bà bằng mọi cách đã dựng được gian nhà nhỏ để ông có điều kiện sống tốt hơn. Bà còn gánh đất, trồng hoa, trồng cây ăn quả... để ông có cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với thiên nhiên.
Niềm tin vào cuộc sống
Giờ đây, khi bước vào tuổi 84 thì ông Huấn liệt toàn phần từ cơ hoành trở xuống, chỉ còn cảm giác duy nhất là sự đau đớn âm ỉ. Bà bảo: “Chỉ những người có chuyên môn thì biết, người bị thương ba cung sau đốt sống từ D7 trở xuống thì đau đớn như thế nào”. Tôi không thể nào tin nổi rằng trong gia đình ấy lại có nhiều mất mát đến thế.
Trời chỉ thương cho ông bà được 2 người con, một trai, một gái. Thế nhưng oái ăm thay, người thương binh nặng 80 tuổi ấy tưởng không qua khỏi khi bị thương thì lại sống, còn người con trai lớn của ông bà đã ra đi cách đây 4 năm. Trong cái đau đớn mất mát ấy, người con dâu đã quyết tâm noi gương mẹ chồng, ở lại phục vụ bố mẹ chồng và nuôi dạy hai người con trưởng thành. “Chị hỏi tôi vì đâu vượt qua được khó khăn ư? Đó là tôi nhìn vào những người đồng đội của chồng tôi, có những người đã hy sinh không tìm thấy một mảnh xương để mà thờ phụng. Và hơn tất cả đó là đạo nghĩa vợ chồng từ những ngày còn ở chiến khu trong cuộc kháng chiến chống Pháp”.
Tôi đến thăm ông bà vào một ngày gần cuối tháng 5, và đây là lần thứ hai trong suốt 40 năm qua ông mới được tiếp xúc với không khí bên ngoài. Ông nằm trên một chiếc xe đặc biệt để bà đẩy ông đi dạo ra bên ngoài khu tập thể. Họ đều đã qua cái tuổi thất thập, cụ ông 84, cụ bà 79, sức khỏe không còn dồi dào nhưng trên nét mặt của họ luôn hiện lên những nụ cười vui, yêu đời, yêu cuộc sống. Tôi nghĩ rằng, họ sống được với nhau không chỉ vì tình yêu, vì đạo lý vợ chồng mà hơn hết còn là niềm tin vào cuộc sống.
Theo An Ninh Thủ Đô
Vết thương chiến tranh
Sẽ chẳng có gì đặc biệt nếu như người đàn ông trong ngôi nhà tầng 1 của khu tập thể B3 Đồng Xa không nằm liệt giường đến nay đã tròn 40 năm. Và đó cũng là quãng thời gian nhiều nước mắt, nhiều khó khăn nhưng hơn tất cả đó là niềm tin vào cuộc sống, vào hạnh phúc và tình yêu, đáng để cho nhiều thế hệ nhìn vào đó để soi lại chính mình.
![]() |
|
Ông Trần Văn Huấn với sự chăm sóc tân tụy của người bạn đời - bà Phạm Thị Tỵ |
Tháng 9-1967, người chiến sỹ lái xe Trần Văn Huấn của Đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn bị thương trong khi vận chuyển hàng vào miền Nam. Vết thương khá hiểm, viên đạn xuyên qua phổi và nằm luôn trong cột sống. 3 tháng sau, ông mới viết thư về cho gia đình báo cho vợ biết mình bị thương, vết thương đã lành nhưng... ông không đi lại được. Vợ ông - bà Phạm Thị Tỵ khi đó là y sỹ của trường Đại học Thương Mại, với chuyên môn nhất định, bà biết rằng ông đã bị thương vào cột sống đồng nghĩa với nguy cơ bị liệt, thậm chí còn có thể tử vong. Ông Huấn được chuyển ra Bắc, điều trị tại Viện Quân y 103 lúc đó đang sơ tán tại nhà dân. Cùng lúc ấy, bà Tỵ vừa trải qua một trận ốm nặng, nhưng tình yêu thương, sự quan tâm lo lắng đã khiến bà xin với trường cho đi chăm sóc chồng bị thương, vì trong suy nghĩ của bà, không nơi nào an dưỡng tốt hơn là ở bên người chồng thân yêu nhất của mình.
Vết thương chiến tranh khiến ông trở thành người thương binh hạng 1/4 đặc biệt, với tổn thương 92% sức khỏe. Ông được đưa đến trại chăm sóc thương binh nặng ở Bỉm Di, Tuyên Quang, cách Hà Nội 130km. Lần đầu tiên bà Tỵ đưa người con gái thứ 2, khi đó mới được 5 tuổi đến thăm bố, cô không nhận... cha mình. Rồi cô con gái bỏ trốn, cả bệnh viện phải đổ xô đi tìm. Mãi đến tối, mọi người mới tìm thấy cô ngồi trong góc nhà của khu điều dưỡng. Lời nói của con khiến ông bà đau thắt ruột: “Mẹ ơi! Mẹ nhầm rồi, bố con đẹp lắm, không phải người xấu xí này, mẹ đừng nhận”.
Người bố mà trong trí nhớ của cô là một người cao lớn, đẹp trai chứ đâu phải người đàn ông đang bị thương, nát da thịt kia. Bà nhớ lại: “Nó thèm có em bé lắm, chỉ gạ mẹ có em cho con bế. Thương con mà chẳng biết làm như thế nào, đành hứa bừa. Bố con vì phải đi chiến đấu nên bị thương. Con phải thương bố, khi nào bố lành, bố khỏi vết thương, bố về mẹ sẽ sinh em bé”. Rồi chuyện ăn Tết năm 1972 của cả gia đình ở trại điều dưỡng. Bà Tỵ khi đó chỉ là một người phụ nữ nặng có 39kg mà có thể chở được 2 người con, một đứa 10 tuổi và một đứa 13 tuổi cùng với 7 túi hàng, những sản phẩm của Hà Nội thời chiến và phải đạp xe 2 ngày mới đến nơi.
Những bài tập xoa bóp, bấm huyệt đã giúp ông có những chuyển biến nhất định, bà mừng lắm. Nhưng sau đó một thời gian, bệnh viện điều trị quyết định mổ để cắt đi một bên của một đốt cột sống, nơi có viên đạn “trú ngụ”. Nhưng thật không may cho ông, như một cuộc rượt đuổi, viên đạn không chịu nằm yên, nó chạy sang một vị trí khác như thử thách ông. Viên đạn không được lấy ra, vết thương rộng thêm, có đường kính hơn 20cm, gần bằng cái đĩa tráng men. Không những thế, cuộc đại phẫu diễn ra trong thời điểm chiến tranh, vào năm 1968, phương tiện không đầy đủ, nên vết thương của ông cứ chảy dịch, lở loét rất mất vệ sinh. Điều không may nữa khi phần liệt của ông lại chuyển lên cao hơn về phía đầu.
Cuộc hành trình từ cõi chết trở về
Năm 1973, khi chiến tranh kết thúc trên miền Bắc, cũng là 6 năm ông Huấn nằm viện, bà Tỵ quyết định đưa ông về nhà. Thời điểm đó chưa có chế độ đưa thương binh nặng về nhà chăm sóc, nên nhiều người cũng không đồng tình với quan điểm của bà, nhất là các bác sỹ. Có bác sỹ còn nói với bà, ông về nhà sẽ không sống nổi vì không có điều kiện như ở trại điều dưỡng, ngoài tiêu chuẩn thương binh thì người nhà chăm sóc không có kinh phí. Nhưng bà vẫn quyết tâm đưa chồng về nhà để chăm sóc.
Thời gian ông về nhà là bắt đầu những tháng ngày khó khăn của gia đình. Thời chiến rồi đến thời bao cấp, sinh hoạt đã khó khăn, lại thêm một thương binh nặng trong nhà, 6 tháng liền không có tiền chế độ của ông, chỉ có tiền lương y sỹ của bà, rồi lại thêm 19 năm ròng không có chế độ dành cho người chăm sóc thương binh nặng tại nhà. Những người con lớn dần lên, nhưng cũng không đỡ đần mẹ được nhiều vì còn bận học hành. Không ai nghĩ rằng ông có thể sống đến ngày hôm nay dưới bàn tay chăm sóc của người phụ nữ đảm đang ấy. Mọi sinh hoạt của ông đều diễn ra trên giường cá nhân. Và cứ thế, bà trở thành nữ y tá tận tụy thay băng, tiêm thuốc, lau rửa hàng ngày suốt hơn 30 năm trời, kiểm tra sức khỏe mỗi khi ông ốm đau, thậm chí còn giúp ông làm cả cái công việc bình thường nhất của con người đó là... đi vệ sinh.
Thấy sự chăm sóc tận tụy của vợ, ông - một chiến sỹ từng vào sinh ra tử, kiên cường trong chiến đấu đã rơi nước mắt. Được biết những việc làm của bà Tỵ đối với chồng, cách đây 3 năm, một người bác sỹ ở Bệnh viện 354 đã đảm nhiệm việc mổ vết thương, đặt ống dẫn cho ông để nước từ vết thương không bị rỉ ra, đỡ mất vệ sinh và cũng để bà đỡ vất vả hơn.
Ông Huấn cho biết ngoài việc chăm sóc chồng tận tụy, vợ ông đã từng “vận động” các khoa phòng trong trường Đại học Thương mại mong nhận được sự ủng hộ để bà có một căn nhà tiêu chuẩn 18m2 đặc biệt của trường dành cho giáo viên. Và một điều kiện được đặt ra nếu như trong vòng 1 ngày bà không làm thêm nhà trên khu đất trống phía trước, thì trường sẽ chia khu đất đó cho người khác. Vậy là ngay trong đêm đó mẹ con bà bằng mọi cách đã dựng được gian nhà nhỏ để ông có điều kiện sống tốt hơn. Bà còn gánh đất, trồng hoa, trồng cây ăn quả... để ông có cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với thiên nhiên.
Niềm tin vào cuộc sống
Giờ đây, khi bước vào tuổi 84 thì ông Huấn liệt toàn phần từ cơ hoành trở xuống, chỉ còn cảm giác duy nhất là sự đau đớn âm ỉ. Bà bảo: “Chỉ những người có chuyên môn thì biết, người bị thương ba cung sau đốt sống từ D7 trở xuống thì đau đớn như thế nào”. Tôi không thể nào tin nổi rằng trong gia đình ấy lại có nhiều mất mát đến thế.
Trời chỉ thương cho ông bà được 2 người con, một trai, một gái. Thế nhưng oái ăm thay, người thương binh nặng 80 tuổi ấy tưởng không qua khỏi khi bị thương thì lại sống, còn người con trai lớn của ông bà đã ra đi cách đây 4 năm. Trong cái đau đớn mất mát ấy, người con dâu đã quyết tâm noi gương mẹ chồng, ở lại phục vụ bố mẹ chồng và nuôi dạy hai người con trưởng thành. “Chị hỏi tôi vì đâu vượt qua được khó khăn ư? Đó là tôi nhìn vào những người đồng đội của chồng tôi, có những người đã hy sinh không tìm thấy một mảnh xương để mà thờ phụng. Và hơn tất cả đó là đạo nghĩa vợ chồng từ những ngày còn ở chiến khu trong cuộc kháng chiến chống Pháp”.
Tôi đến thăm ông bà vào một ngày gần cuối tháng 5, và đây là lần thứ hai trong suốt 40 năm qua ông mới được tiếp xúc với không khí bên ngoài. Ông nằm trên một chiếc xe đặc biệt để bà đẩy ông đi dạo ra bên ngoài khu tập thể. Họ đều đã qua cái tuổi thất thập, cụ ông 84, cụ bà 79, sức khỏe không còn dồi dào nhưng trên nét mặt của họ luôn hiện lên những nụ cười vui, yêu đời, yêu cuộc sống. Tôi nghĩ rằng, họ sống được với nhau không chỉ vì tình yêu, vì đạo lý vợ chồng mà hơn hết còn là niềm tin vào cuộc sống.
Theo An Ninh Thủ Đô
