Metfone.JPG
Metfone

Viễn thông Việt Nam:

Từ phải hợp tác đến phải tự làm

Năm 1987, VNPT hợp tác với Úc để thiết lập dịch vụ điện thoại quốc tế. Tiếp theo đó là liên kết kinh doanh với Nhật, Pháp và Hàn Quốc để thiết lập hệ thống điện thoại nội hạt.

Chiếc điện thoại di động đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng cuối năm 1992 to như một viên gạch, trông không khác chiếc điện thoại cố định loại mẹ-con là mấy và có giá đến 2400 USD. Lúc ấy, nhà cung cấp dịch vụ thử nghiệm cũng là một doanh nghiệp nước ngoài là hãng Alcatel (Pháp). Thời gian đầu, điện thoại di động không có dịch vụ hiện số cuộc gọi và bất cứ người gọi hay người được gọi đều bị thu cước phí, chính xác là 3.600 đồng/phút theo gói 3 + 1, tức là dù gọi dưới 3 phút cũng bị tính cước 3 phút đầu tiên. Tuy nhiên, do quá ít người dùng nên giai đoạn này ít được nhắc đến trong lịch sử ngành di động. Phải đến năm 1995, tập đoàn Comvik (Thụy Điển) với tiềm lực mạnh mẽ về vốn, công nghệ kỹ thuật và công nghệ quản lý hợp tác kinh doanh (BCC) với VNPT thành lập ra Mobifone thì di động mới chính thức trở thành một dịch vụ ở Việt Nam.

Đến năm 1997, Vinaphone ra đời. Tuy không trực tiếp hợp tác kinh doanh nhưng yếu tố nước ngoài vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết kế và vận hành mạng lưới. Từ đó, gần như đã thành mặc định trong tư duy, phải hợp tác với nước ngoài để huy động nguồn vốn và công nghệ là con đường tất yếu của các doanh nghiệp Việt Nam. S-phone, HT Mobile (sau này đổi thành VietnamMobile), Beeline đều nằm trong xu thế này và duy chỉ có Viettel là khác.

Ban đầu, khi chuẩn bị cung cấp dịch vụ di động, Viettel vẫn nằm trong tư duy “phải hợp tác với nước ngoài” và nhiều năm liền tìm kiếm đàm phán với các đối tác. Cũng thời điểm đó, viễn thông thế giới suy thoái. Các nhà đầu tư không mặn mà lắm với việc mở rộng kinh doanh, nên đều khéo léo từ chối hoặc đưa ra những điều khoản mặc cả theo kiểu được thì tốt, không được thì thôi. Khi lòng tự trọng của những người lính đã trỗi dậy, các lãnh đạo của doanh nghiệp quân đội này quyết định: phải tự làm. Tự làm viễn thông, không có nhiều người ở Việt Nam tin vào điều đó ở thời điểm đầu những năm 2000.

Chính trong quá trình tự làm đó, các nhà lãnh đạo của Viettel đã phát hiện ra một vài điều rất quan trọng. Đó là, Việt Nam chưa đủ trình độ để tạo ra công nghệ, nhưng người Việt Nam hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ trước khi bắt buộc phải mua công nghệ đó. Và đó là, thiếu tiền có thể đi vay, nhưng không thể đi vay cách nghĩ, cách làm. Đó là, công nghệ dù cao cấp đến mấy sẽ ngày càng rẻ đi trong khi người tiêu dùng sẽ ngày càng giàu lên, quan trọng nhất là viễn thông là nhu cầu cơ bản của tất cả mọi người. Thế là mạng viễn thông Viettel được thiết lập theo cách chưa từng có ở Việt Nam: hoàn toàn do người Việt Nam thiết kế, xây dựng, vận hành ngay từ đầu và phủ sóng khắp các tỉnh thành ngay tại thời điểm khai trương. Cùng với đó là một khái niệm viễn thông dành cho mọi người, mọi nhà. Khái niệm này hoàn toàn khác với quan niệm vốn tồn tại ổn định ở Việt Nam rằng viễn thông là cao cấp, chủ yếu là dành cho người thành phố có thu nhập cao.

Đến nay, viễn thông Việt Nam đã trải qua 10 năm phá thế độc quyền, bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ, trong đó có 5 năm liên tục bùng nổ nhảy vọt. Không thể phủ nhận một điều rằng chính việc kiên trì thực hiện khái niệm viễn thông bình dân cho mọi người đã là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc đưa Việt Nam từ một nước tụt hậu về viễn thông trở thành một nước có tốc độ phát triển viễn thông vào hàng nhanh nhất thế giới. Khái niệm đó đã đưa trạm phát sóng được quang hóa về đến từng xã, đưa giá dịch vụ từ vào loại đắt nhất thế giới xuống ngang bằng, thậm chí rẻ hơn các nước trong khu vực, đưa chiếc điện thoại vốn là đặc quyền của một vài người thành nhu cầu được đáp ứng của tất cả mọi người…

Đến “xuất khẩu’ khái niệm

Thị trường viễn thông trong nước dù mới phát triển và còn rất tiềm năng, nhưng chắc chắn không thể tăng trưởng mãi. Để tìm nguồn phát triển cho tương lai, chỉ còn cách đi ra nước ngoài. So với thế giới, Việt Nam đi ra đầu tư nước ngoài chậm hơn đến vài chục năm. Nhưng trong hoàn cảnh cụ thể, lại có thể nói là viễn thông Việt Nam đi ra nước ngoài lại khá sớm. Từ giữa năm 2006, khi mà thị trường trong nước mới bước vào thời kỳ bùng nổ, chỗ đứng thương trường chưa phải đã thật vững vàng thì những bước đi đầu tiên cho sự nghiệp đầu tư viễn thông ra nước ngoài đã được thực hiện.

Môi trường khác, thị trường cạnh tranh khốc liệt trong khi thu nhập người dân còn rất thấp, những khó khăn về nguồn nhân lực… là những thách thức rất lớn cho Viettel khi tiến ra thị trường nước ngoài.  

Ong Nguyen Duy Tho Giam doc Cong ty Metfone nhan Giai thuong.JPG
Ông Nguyễn Duy Thọ, Giám đốc công ty Metfone nhận Giải thưởng

Ở Campuchia, mối nghi hoặc còn lớn hơn. Bởi trước Viettel, đã có tới 7 nhà cung cấp dịch vụ, trong đó có đến 6 là của các ông lớn của khu vực và thế giới đầu tư trực tiếp hàng chục năm. Nhưng viễn thông Campuchia vẫn phát triển rất chậm, không khác gì Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI. Giá cước rất cao, dịch vụ chưa đầy đủ, chất lượng thấp và cũng chỉ tập trung loanh quanh ở vùng thủ đô và các thành phố lớn. Còn Viettel, dù phát triển nhanh nhưng so với những nhà đầu tư đi trước thì không thể so sánh về công nghệ, nguồn vốn, kinh nghiệm thương trường…

Nhưng Viettel lại có những sức mạnh mà các “ông lớn” không có. Một trong số đó chính là một khái niệm viễn thông mới cùng những kinh nghiệm triển khai thành công trong thực tế tại Việt Nam. Khái niệm viễn thông được đúc rút thành triết lý 4 Any (mọi lúc, mọi nơi, cho mọi người, với giá rẻ) được Viettel mang nguyên theo sang thị trường Campuchia. Một mạng lưới rộng lớn, vững chắc phủ khắp các tỉnh thành được dựng lên trước ngày khai trương chính thức. Các gói dịch vụ được chia nhỏ phù hợp với từng đối tượng người tiêu dùng với giá cước thấp hơn các nhà cung cấp khác tới gần 30%.

Đến tháng 6 vừa qua, chỉ sau hơn 1 năm chinh thức cung cấp dịch vụ, không chỉ người dân và chính phủ Campuchia mà cả cộng đồng quốc tế cũng chính thức ghi nhận sự thành công của khái niệm viễn thông mà Viettel mang tới, khi Frost&Sullivan vinh danh Metfone (thương hiệu của Viettel tại Campuchia) là “Nhà cung cấp dịch vụ triển vọng nhất của năm” ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Bức tranh viễn thông Campuchia đã thay đổi với tốc độ phi mã khi chỉ sau một năm mà đã tăng mật độ di động từ 15% lên 40%, điện thoại cố định từ 1% lên 6%, Internet băng rộng từ 0,5% lên 2%, mật độ hạ tầng từ 120 trạm phát sóng BTS và 150 km cáp quang/1 triệu dân lên 250 BTS và 1.000km cáp quang/1 triệu dân. Và vị thế của viễn thông Campuchia đã thay đổi rất nhiều trên bản đồ thế giới. Chỉ số 'Sẵn sàng kết nối' của Campuchia năm 2009 xếp 128/134 đã nhảy vọt lên 117/133 vào năm 2010. Hình ảnh đặc trưng của viễn thông Campuchia đã cơ bản chuyển từ nam thanh nữ tú sành điệu với chiếc điện thoại di động sang những người nông dân chất phác tự tin với chiếc alô.

Viễn thông Việt Nam đã đi qua một bước chuyển rất dài, từ là đối tượng tiếp nhận sang người đi đầu tư. Không chỉ đơn thuần là đầu tư nước ngoài, xuất khẩu dịch vụ. Việt Nam đã xuất khẩu một khái niệm của riêng mình. Đến năm 2015, khái niệm đó có thể phủ tới 500 triệu dân ở các nước đang phát triển.