Đền Đa Hòa, xưa thuộc tổng Mễ Sở, huyện Đông Anh, tỉnh Hưng Yên, nay thuộc xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên có bề dày lịch sử, lưu dấu nhiều huyền tích cổ xưa. Trong đó có thiên tình sử tuyệt đẹp giữa chàng trai đánh cá nghèo Chử Đồng Tử và nàng công chúa lá ngọc cành vàng Tiên Dung…

Đền Đa Hòa được Nhà nước xếp hạng Di tích Quốc gia từ năm 1962. Đây không chỉ là nơi gìn giữ, lưu truyền và lan tỏa một thiên tình sử mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp mà còn có giá trị đặc biệt về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc thời Nguyễn.

Đền do Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh đứng ra vận động nhân tài vật lực của nhân dân tám thôn thuộc tổng Mễ Sở cùng thập phương công đức để xây dựng, tôn tạo năm 1894 trên nền một ngôi đền cổ. Hiện chưa tìm được tài liệu nào chính xác cho biết ngôi đền cổ này được xây dựng từ thời gian nào, bằng vật liệu gì, quy mô to nhỏ ra sao và điều quan trọng hơn là ngôi đền này thờ ai?

{keywords}

Các trưởng lão cử hành lễ rước nước dâng Đức Thánh để cầu xin một năm an lành, mùa màng bội thu.

Mặc dù đền Đa Hòa được xây dựng vào thời nhà Nguyễn. Song, kiến trúc có những nét riêng vô cùng độc đáo. Trước hết, phải kể đến kiểu dáng nóc của 18 ngôi nhà lớn, nhỏ đều hình con thuyền, loại thuyền dùng thi bơi chải, mũi cong được đỡ bởi hai con vật có mặt rồng, mình sư tử. Nếu đứng trên cao nhìn xuống sẽ thấy nóc nhà, cái ngang, cái dọc, cái cao, cái thấp như 18 con thuyền đang quần tụ dập dềnh trên biếc lá.

Để tưởng nhớ công lao khai dân lập ấp, đã thành lệ, cứ 3 năm một lần đền Chử Đồng Tử – Tiên Dung (đền Đa Hòa) mở hội hàng Tổng từ ngày mùng 10 đến hết ngày 15 tháng Ba âm lịch gọi là hội Kỳ Yên (để cầu mát). Ngày khai hội, 8 làng tổ chức rước kiệu Thánh bản thổ về đền Đa Hòa trình Đức Thánh và dự lễ hội. Đoàn rước kiệu có hàng nghìn người tham gia với xiêm y rực rỡ, cờ xí, tàn vàng, lọng tía rợp trời cùng với đồ tế tự, rồng, lân đi trên đoạn đê dài gần 2km như rồng muôn sắc uốn lượn về đền.

Lễ hội diễn ra trong 3 ngày mang đậm nét bản sắc văn hóa vùng châu thổ Sông Hồng. Khi đoàn rước kiệu Thánh bản thổ của các làng về sân đền trình Đức Thánh, lễ khai hội bắt đầu. Mọi người cùng nhau ôn lại truyền thống về mối thiên duyên Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa cùng Tây Sa công chúa. Sau đó là lễ dâng hương. Ngày thứ hai (ngày 11/2) là lễ Rước nước và du thuyền trên sông, tức là lễ lấy và mang nước ở Sông Hồng về đền. Theo tục lệ thì nước dùng trong việc Thánh ở đền trong cả năm như làm lễ Mộc dục (lau tượng), nước cúng phải được lấy ở giữa dòng Sông Hồng. Lực lượng của các làng tham gia rước nước cũng tới hơn 1.000 người, được biên chế thành các đội như: Đội tế nam gồm các vị trung niên trở lên, đội tế nữ gồm các bà trung niên trở lên, đội múa sênh tiền gồm các nữ chừng tuổi 13 – 14, ban nhạc lễ, đội múa rồng, đội khênh kiệu Thánh, đội khênh kiệu chóe đựng nước, lực lượng chèo thuyền… đều mặc trang phục ngày hội với kiểu cách riêng. Đi đầu đám rước là hai con rồng vàng lộng lẫy uy nghi, uốn lượn theo nhịp trống phách dồn dập…

Người được chọn múc nước là người già có đức độ, khỏe mạnh, mặc lễ phục, tay cầm chiếc gáo dừa đỏ cúi xuống múc từng gáo đổ vào chóe tới khi đầy. Xong việc, đoàn thuyền quay vào bờ trong tiếng trống, chiêng rộn rã. Lễ rước nước đưa ta trở về không khí của những hội làng thuở xa xưa, thể hiện rõ nét tín ngưỡng của những cư dân nông nghiệp.

Chử Đồng Tử – Tiên Dung đi vào tâm thức dân gian và trường tồn qua năm tháng, mặc bao biến thiên của lịch sử, không chỉ là biểu tượng bất diệt của tình yêu mà còn tượng trưng cho chí hướng phát triển cộng đồng, mở mang khai phá khu vực lầy trũng thành cánh đồng tốt tươi phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa… góp phần xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp.

(Theo Người cao tuổi)