
XEM CLIP:
“Nhắc lại những trận tra tấn ngày xưa, liệu người ta có ai tin không?”. Câu hỏi của ông Nguyễn Văn Hà khi chúng tôi đặt vấn đề phỏng vấn, không phải để tìm câu trả lời. Nó như một sự trăn trở khi chiến tranh đã lùi dần vào quá khứ và hiện tại là ngồn ngộn những dòng tin thời sự. Liệu người trẻ sẽ khắc ghi những hy sinh của cha anh để hết mình trong việc dựng xây và bảo vệ đất nước?
Người lính đi qua “chuồng cọp”
Ông Nguyễn Văn Hà sinh năm 1948, quê Quảng Trị, lớn lên rồi theo gia đình ra Hà Tĩnh. Ông khoác ba lô lên đường nhập ngũ khi mới 18 tuổi. Hành quân theo đường Trường Sơn, ông trở lại quê nhà. Quảng Trị năm 1968, đất đỏ lẫn máu.
Ông thuộc Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 812, Sư đoàn 324B. Tết Mậu Thân, đơn vị ông trực tiếp chiến đấu tại thị xã Quảng Trị.

Nhớ lại những ngày chiến đấu cùng đồng đội, ông chia sẻ: “Tiểu đoàn của chúng tôi có anh em tới từ nhiều vùng quê. Tôi nhớ, anh Phùng Văn Phức (tiểu đoàn trưởng, quê ở Quảng Nam cũ), tham mưu trưởng là anh Bùi Giáp Thân quê Hà Nội. Những lúc nguy nan, anh luôn nêu cao tinh thần cách mạng. Anh Thân đọc câu thơ của Tố Hữu để động viên anh em: 'Ai chiến thắng mà chưa hề chiến bại/ Ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần'".
Trong trận đánh ác liệt, ông Hà bị thương, không kịp rút lui và bị rơi vào tay đối phương trong cuộc truy lùng.
Ông bị bắt giam, đưa vào trại Non Nước ở Đà Nẵng.
“Chúng tra tấn và hỏi tôi tên gì. Tôi hay đọc thơ Hữu Thung nên khai tên là Đặng Hữu Thung, ở một đơn vị vận tải thương binh. Tôi không khai tên mình và tên đơn vị để tránh ảnh hưởng tới đồng đội”, ông Hà nhớ lại.


Sau vài tháng giam cầm ở Đà Nẵng, ông bị đày ra nhà tù Phú Quốc.
4 năm 7 tháng. Quãng thời gian đủ dài để bào mòn thân thể con người, nhưng không thể khuất phục ý chí của những người lính như ông.
Ông kể, giọng đều đều, như kể chuyện của một người khác: “Chuồng cọp rộng chừng 27m2 mà nhốt tới 30 người. Chúng tôi nằm ở đất, ăn uống kham khổ, bị đánh đập, tra tấn thường xuyên”.


Mảnh đạn M79 găm trong người ông đến tận bây giờ. Một mảnh đã được mổ lấy ra, một mảnh còn nằm sâu trong tay. Chân ông bị đạn xuyên qua. Mỗi khi trái gió trở trời, vết thương lại nhức buốt như nhắc ông về những trận đánh ác liệt ở Quảng Trị và đòn tra tấn khủng khiếp nơi “địa ngục trần gian”.


“Ai ra khỏi chuồng cọp cũng phải bò, không thể đi nổi”, ông nghẹn lại, lau những giọt nước mắt.
Trong hoàn cảnh đó, ông cùng đồng đội vẫn giữ vững ý chí: “Chỉ có lý tưởng cách mạng, chiến đấu đến cùng, không đầu hàng, không lùi bước. Chúng tôi biết rằng mình sẽ chiến thắng”.

Ngày 16/2/1973, ông được trao trả tại sông Thạch Hãn.
Trở về, ông gần như không còn gì. Bom đánh sập nhà, cha ông mất. Gia đình đã nhận giấy báo tử của ông.
Ông trở về… như một người đã chết sống lại.
Người “cảm tử quân” trên biển
Cách nhà ông Hà khoảng 30km, bên bến đò Tùng Luật - nơi từng là mạch nối sống còn giữa hai bờ Hiền Lương, ông Trương Song sống trong một căn nhà giản dị, rợp bóng cây.
Ông là bạn tù của ông Hà ở Phú Quốc. Nhưng trước khi gặp nhau trong ngục, mỗi người đã đi qua một con đường riêng - cũng đầy máu, nước mắt nhưng vô cùng anh dũng.
Năm 1965, khi mới hơn 17 tuổi, ông Song nhận nhiệm vụ tiếp tế cho bộ đội đảo Cồn Cỏ. Đây thực chất là những “cảm tử quân”.
Một nhiệm vụ mà như ông nói: “Ra đi là xác định một sống hai chết, mà phần chết nhiều hơn phần sống”.

Phương tiện vận chuyển là thuyền buồm nhỏ. Ông cùng đồng đội không được phép nổ súng. Trong khi đó, tàu địch thường xuyên tuần tra, dùng loa cảnh báo, uy hiếp.
Dù vậy, các tổ vận chuyển vẫn kiên quyết tiếp cận đảo.
Mỗi chuyến đi là một canh bạc bằng mạng sống. Có lúc, ông phải hạ buồm, nằm im giữa biển, chờ tàu địch tuần tra qua. Có lúc đối mặt trực diện, chỉ cần một sai lầm là bị xóa sổ.
Và thực tế, đơn vị của ông bị tổn thất rất nặng về người sau 2 tháng hoạt động. Nhiều người hy sinh, nhiều người bị bắt.
Ông Song cũng nằm trong số đó. Sau khi hoàn thành chuyến tiếp tế và trên đường trở về, thuyền của ông bị bắn chìm. Ông ôm phao trôi dạt nhiều km từ Cồn Cỏ vào vùng Phú Vang (Thừa Thiên Huế). Ông bị bắt vào ngày 31/5/1965. Từ đây, chuỗi ngày bị tù đày, đánh đập, tra tấn bắt đầu.
Ông bị đưa vào trại giam ở Đà Nẵng, Biên Hòa, rồi quay lại Đà Nẵng, cuối cùng là Phú Quốc.
8 năm bị giam cầm, trong đó 6 năm ông ở địa ngục trần gian - trại giam Phú Quốc.


Ông rùng mình khi nhắc tới hình phạt “trực thăng”. Người tù nằm thẳng ra mặt đất, quặt tay ra phía sau lưng, chân bị trói rồi bị đánh. Việc duy trì tư thế này dưới điều kiện thời tiết khắc nghiệt gây ra sự mệt mỏi cơ bắp tột độ và đau đớn kéo dài.
Cực nhất là hình thức tra tấn “đi tàu ngầm”. Người tù bị ném vào thùng phi đựng đầy nước, rồi đậy nắp kín. Chúng đánh thật mạnh vào bên ngoài thùng. Tù nhân vừa sặc nước, vừa như vỡ tai, đầy đau đớn.

Ông không nói nhiều về tra tấn vì “không thể kể hết”, nhưng kể về những việc mình đã làm trong tù.
Ông là tù nhân phụ trách bếp nên được tổ chức phân công âm thầm giấu thức ăn giúp đỡ những đồng đội ở phòng biệt giam. Ngày ngày, ông bớt khẩu phần ăn của mình, bí mật trộn cá vào cơm để bồi dưỡng cho những người bị biệt giam.
Ông nhớ lại: “Phần cơm của các chiến sĩ bị biệt giam có một xíu cơm với nhúm muối. Để bổ sung dinh dưỡng cho anh em, tôi gỡ xương, chỉ lấy phần thịt cá liệt màu trắng và dằm thật nhuyễn rồi giấu vào trong cơm để chúng không phát hiện ra”.
Ngoài ra, ông còn chữa trị cho nhiều tù nhân bị gãy xương. Ông bí mật ra rừng nhặt lá thuốc về bó cho tù nhân gãy tay, chân. Thậm chí, ông còn hỗ trợ cả cai ngục khi họ bị thương.
Ông nói: “Cứu được người nào thì cứu, không phân biệt”.

Những phần cơm ấy đã cứu ông Nguyễn Văn Hà trong những ngày bị giam cầm trong nhà tù Phú Quốc.
Hai người lính, hai cuộc đời, gặp nhau trong nhà tù Phú Quốc. Họ kể về nỗi ám ảnh bị thủ tiêu, về những chuyến “trao trả” mà ngay cả khi lên máy bay vẫn nghĩ có thể là chuyến đi cuối cùng trong cuộc đời.
Nhưng trên tất cả, họ kể về một điều giản dị: “Đã nhận lệnh là không sợ chết”. Và họ còn kể cho chúng tôi nghe về một thứ tình cảm ấm áp mang tên “đồng đội”.
“Tết nào tôi cũng đi Tết anh Song”…; “tôi vừa đi giỗ vợ anh ấy”; “năm ngoái tôi mổ ở bụng, viện phí là Hà lo cho tôi đó chứ”… Những câu chuyện về tình người ở mảnh đất Quảng Trị anh hùng khiến chúng tôi nghèn nghẹn.
Quảng Trị - mảnh đất gió Lào cát trắng, nơi con người lớn lên cùng bom đạn, trưởng thành trong mất mát và mang trong mình một khí chất rất riêng: lặng lẽ, bền bỉ mà kiên cường đến tận cùng.
Ông Hà và ông Song không phải là những cựu binh thích kể về mình. Họ sống lặng lẽ. Nhưng chính sự lặng lẽ ấy lại là sức sống mãnh liệt của người dân Việt Nam: kiên cường, giản dị không phô trương, nhưng khi đất nước lâm nguy, họ đứng lên quật cường, không tiếc máu xương.


