![]() |
| Chương trình dịch vụ VTCI đã rút ngắn khoảng cách về sử dụng dịch vụ VT giữa các vùng miền. Ảnh: THANH HẢI |
Năm 2010 là năm kết thúc giai đoạn I hoạt động viễn thông công ích (VTCI). Xin ông cho biết những kết quả đã đạt được trong giai đoạn I?
Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích giai đoạn I từ năm 2005 đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 74/2006/QĐ-TTg ngày 07/4/2006. Về cơ bản, đến hết 6 tháng đầu năm 2010, các mục tiêu của Chương trình đều vượt, cụ thể là: Mật độ điện thoại tại các vùng được cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đã đạt bình quân 16,8 máy/100 dân (mục tiêu đạt trên 5 máy/100 dân); 83 % số xã trên toàn quốc có điểm truy nhập dịch vụ Internet công cộng (mục tiêu 70%); đảm bảo mọi người dân đều được truy nhập miễn phí khi sử dụng các dịch vụ viễn thông bắt buộc.
Đối với chỉ tiêu 100% số xã trên toàn quốc có điểm truy nhập dịch vụ điện thoại công cộng hiện nay vẫn chưa đạt vì tốc độ phát triển điện thoại di động, điện thoại cố định vô tuyến rất nhanh, do vậy việc triển khai các điểm truy nhập điện thoại công cộng bị chậm lại. Mặt khác, ở một số xã rất xa trung tâm huyện lỵ, với địa hình núi cao chia cắt phức tạp, bên cạnh đó lại chưa có nguồn điện, do vậy việc triển khai các điểm truy nhập điện thoại công cộng rất khó khăn.
![]() |
| Ông Trần Mạnh Dũng |
Trên thực tế, việc rút ngắn khoảng cách số giữa khu vực đô thị với khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa đã có hiệu quả như thế nào, thưa ông?
Với Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích giai đoạn 2005 - 2010, chúng ta đã rút ngắn khoảng cách về sử dụng dịch vụ viễn thông và Internet giữa các vùng miền, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kích cầu đầu tư, nâng cao dân trí, đẩy nhanh xóa đói giảm nghèo, góp phần đảm bảo an ninh, quốc phòng.
Trừ một số những vùng rất xa trung tâm, miền núi cao, địa hình phức tạp, với chính sách phổ cập dịch vụ viễn thông của Nhà nước, việc liên lạc và tiếp cận thông tin của các cấp chính quyền, Đảng, đoàn thể và đại bộ phận nhân dân rất thuận lợi, đã phục vụ tốt việc điều hành, giao lưu tình cảm, nắm bắt những thông tin phục vụ phát triển sản xuất và đời sống.
Một kết quả nữa của Chương trình là đã nâng cao được nhận thức đối với các cấp, các ngành và nhân dân tại các vùng sâu, vùng xa, miền núi biên giới và hải đảo về tàm quan trọng và vai trò của sử dịch vụ bưu chính, viễn thông, Internet, các phương tiện thông tin đại chúng trong phát triển kinh tế -xã hội, nâng cao dân trí, phục vụ phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.
Trước đây đã có tình trạng doanh nghiệp VT cố tình lẫn lộn giữa chương trình công ích của Chính phủ với chương trình khuyến mãi của doanh nghiệp. Ví dụ, doanh nghiệp đến lắp máy hoặc mạng miễn phí cho dân theo chương trình công ích, nhưng lại giải thích với dân rằng đây là hoạt động khuyến mãi đặc biệt của doanh nghiệp khiến người dân không biết đó là hoạt động cộng đồng mà họ được hưởng thụ. Vậy cơ quan chức năng đã xử lý tình trạng đó ra sao, thưa ông?
Đúng. Trong thời gian qua, có hiện tượng như vậy ở một số nơi. Khi biết như vậy, các Sở TT & TT và các cơ quan chức năng của Bộ TT & TT đã nhắc nhở, chấn chỉnh kịp thời để các doanh nghiệp viễn thông khi phát triển máy điện thoại, thuê bao Internet và thu cước của khách hàng phải nói rõ phần hỗ trợ của Nhà nước từ Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích Việt Nam. Thực tế này chỉ tồn tại thời gian đầu khi mới hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông công ích.
Thực trạng trên một phần trong thời gian qua do chúng ta chưa thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông công ích của Nhà nước. Đến nay, các Sở TT & TT, các doanh nghiệp viễn thông đã phổ biến, hướng dẫn và thực hiện tách bạch rõ phần khuyến mại của doanh nghiệp và phần hỗ trợ của Nhà nước trong phát triển phổ cập dịch vụ và hỗ trợ duy trì cung cấp dịch vụ viễn thông công ích. Trong hóa đơn thu cước hàng tháng, các doanh nghiệp đã tách phần khấu trừ tiền thuê bao tháng được Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích Việt Nam hỗ trợ.
Để tránh xảy ra tình trạng như trên, công tác tuyên truyền là hết sức quan trọng. Vậy, Quỹ DVVTCI đã giải quyết vấn đề trên như thế nào?
Về công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách hỗ trợ phát triển và cung cấp dịch vụ viễn thông công ích là nhiệm vụ của tất cả các đơn vị có liên quan. Bộ TT & TT đã có nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các Sở TT & TT, các doanh nghiệp viễn thông được đặt hàng cung cấp dịch vụ viễn thông công ích thực hiện tốt công tác tuyên truyền và đặc biệt khi thực hiện cung cấp dịch vụ với người dân.
Với Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích, việc tuyên truyền sẽ được tiếp tục thực hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, phối hợp với các Sở TT & TT, các doanh nghiệp viễn thông để có những chương trình tuyên truyền thiết thực và gắn công tác tuyên truyền với công tác hướng dẫn, đào tạo người sử dụng dịch vụ. Quỹ VTCI sẽ kiến nghị trong thời gian tới cần tăng kinh phí cho công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách kết hợp với công tác hướng dẫn, đào tạo người sử dụng dịch vụ, nhất là đối với dịch vụ Internet.
Ông có thể cho biết chương trình hoạt động VTCI trong giai đoạn II (2011-2015)?
Hiện nay, Bộ TT & TT đang chỉ đạo Quỹ VTCI và các cơ quan có liên quan chuẩn bị tổng kết thực hiện Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích giai đoạn I từ 2005 - 2010. Trên cơ sở kết quả thực hiện chính sách, những bài học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện sẽ xây dựng Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích giai đoạn 2011-2015.
Theo tôi, chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích giai đoạn 2011-2015 có thể tập trung vào các mục tiêu cụ thể. Trước hết là tập trung phát triển hạ tầng truyền dẫn băng rộng để cung cấp đa dịch vụ đến 100% các xã, cụm thôn bản hoặc thôn bản có số dân đông tại các vùng công ích để đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân và chính quyền các cấp, bước đầu đáp ứng phát triển Chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công, phục vụ thương mại điện tử, chữa bệnh và đào tạo từ xa.
Đường truyền dẫn băng rộng đáp ứng truyền dẫn cho cả lĩnh vực phát thanh, truyền hình. Thứ hai, tiếp tục thực hiện phổ cập dịch vụ điện thoại đến hầu hết các hộ dân trong vùng công ích. Thứ ba, tập trung phổ cập dịch vụ truy nhập Internet đến các cá nhân và hộ gia đình, phấn đấu đến năm 2015, 40 % số hộ dân có thuê bao Internet. Thứ tư, trên cơ sở các điểm truy nhập dịch vụ viễn thông công cộng hiện nay, bao gồm cả các điểm BĐVHX sẽ phát triển thành các Trung tâm thông tin cộng đồng, phục vụ cung cấp các dịch vụ BCVT - CNTT, phát thanh, truyền hình và các dịch vụ khác để đảm bảo thuận tiện nhất cho người dân trong sử dụng các dịch vụ.
Cuối cùng là việc hỗ trợ thiết bị đầu cuối cho các hộ gia đình xem được các chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các đài phát thanh truyền hình địa phương phù hợp với lộ trình thực hiện số hóa truyền dẫn phát sóng phát thành và truyền hình.
Trân trọng cảm ơn ông!
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số tháng 5/2010.

