1.jpg.jpg
Ảnh minh họa

Ông Roger Barlow, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc điều hành hãng nghiên cứu thị trường RJB Consultants Limited (Hong Kong) vừa công bố một số nghiên cứu về thị trường viễn thông Việt Nam. Theo nghiên cứu này, doanh thu bình quân trên mỗi thuê bao (ARPU) của Việt Nam chỉ ở mức 4 USD/tháng, thấp hơn rất nhiều so với các nước phát triển. Việt Nam thuộc nhóm các nước có ARPU thấp nhất ở châu Á.

Đáng nói là hiện nay mức ARPU của Việt Nam đang tiếp tục đà giảm sút vì giá cước các dịch vụ ngày càng giảm và cạnh tranh trên thị trường ngày càng tăng. Các hãng viễn thông Việt Nam phải cạnh tranh trong bối cảnh ARPU ngày càng giảm. Dịch vụ dữ liệu đang được cho sẽ giúp cải thiện ARPU, tuy nhiên hiện nay dịch vụ dữ liệu của Việt Nam chủ yếu là các hoạt động nhắn tin SMS, các dịch vụ dữ liệu phi SMS vẫn còn rất ít.

Trong khi đó, Việt Nam có tới 95% là thuê bao di động trả trước. Trái với Nhật Bản, thị trường có mức ARPU cao nhất châu Á với gần 60 USD, chỉ khoảng 2-3% thuê bao di động ở Nhật Bản là trả trước. Đánh giá về hiện trạng thị trường viễn thông Việt Nam, ông Trần Minh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược TT&TT, cũng cho rằng hiện thị trường đang cạnh tranh mạnh mẽ, giá cước dịch vụ ở mức trung bình trong khu vực.

Ông Roger Barlow cho rằng thị trường viễn thông Việt Nam chưa bão hoà, vẫn còn các phân khúc thị trường chưa được khai phá và còn nhiều cơ hội tăng trưởng. Tuy nhiên, nghiên cứu tại các thị trường khu vực cho thấy ở hầu hết các quốc gia, chỉ có từ 2-3 hãng viễn thông thống trị thị trường. Hiện Việt Nam có 7 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thông tin di động và 3 doanh nghiệp đã cung cấp dịch vụ 3G. Ông Roger Barlow nhận định Việt Nam đang đi theo mô hình “Big 3” (3 mạng lớn), các nhà mạng nhỏ khó có sự phát triển bền vững. Dự đoán vào khoảng năm 2011 hoặc 2012 sẽ xảy ra hiện tượng thâu tóm và sáp nhập trên thị trường viễn thông Việt Nam.

Tuy nhiên, đại diện của hãng RJB Consultants Limited cũng cho rằng nghiên cứu của họ gặp vấn đề thu thập số liệu về thị trường viễn thông Việt Nam. Hiện chưa có một báo cáo độc lập nào về thị trường viễn thông Việt Nam, trong khi đó số lượng thuê bao được công bố quá lớn, và số các thuê bao “chết” (thuê bao không hoạt động) tại Việt Nam rất cao. Theo ông Roger Barlow, vấn đề thiếu số liệu rõ ràng sẽ gây khó khăn khi các hãng di động tiến hành cổ phần hoá.

Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 62 ra ngày 24/5/2010.