may-tinh_S.jpg
Thiết bị đầu cuối là một trong những yếu tố quyết định tới khả năng sử dụng dịch vụ VT - CNTT của người dân.

>>Năm 2015, VNPT sẽ cung cấp mạng băng rộng cố định trên nền  IPv6

Phát biểu tại Hội nghị “Triển khai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về phát triển hạ tầng thông tin”, ông Nghiêm Phú Hoàn cho biết, hiện VNPT đã đầu tư hạ tầng băng rộng mạnh. Cụ thể, tổng dung lượng kết nối quốc tế của VNPT đã đạt 160 Gpbs. Kết nối liên tỉnh của VNPT qua các tuyến Backbone đã đạt 600 Gpbs, bước đầu hình thành các "siêu xa lộ" thông tin.

Hiện VNPT có hơn 55 nghìn trạm thu phát sóng 2G, 3G; đã phủ sóng 95% diện tích toàn quốc và 90% dân số, phục vụ 53 triệu thuê bao. Mạng 3G của VNPT có tốc độ download tại Hà Nội, TP.HCM lên tới 21Mbps. Thời gian qua, VNPT đã tăng cường phủ sóng ven biển, tới cả các vùng hải đảo.

Ông Nghiêm Phú Hoàn cho biết, mạng băng rộng cố định (cáp quang, cáp đồng) của VNPT cũng có gần 4,5 triệu cổng, phục vụ 2,8 triệu thuê bao băng rộng cố định. VNPT đã triển khai cáp quang về tới 97% xã/phường. Ngoài mạng băng rộng cố định và 3G, VNPT đang sở hữu 2 vệ tinh phủ sóng toàn lãnh thổ Việt Nam và các nước khu vực Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Myanmar...

Tuy nhiên, theo ông Hoàn, xu hướng dịch vụ thoại di động vẫn tiếp tục tăng và chiếm ưu thế với khách hàng cá nhân, còn dịch vụ thoại cố định truyền thống giảm dần. Truy nhập Internet băng rộng sẽ là hạ tầng chủ đạo để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

VNPT đặt ra mục tiêu đến năm 2015 có 39 nghìn trạm 2G và 30 nghìn trạm 3G, năm 2020 sẽ có 55 nghìn trạm 3G/4G. VNPT sẽ triển khai công nghệ 4G, trước mắt thí điểm cung cấp dịch vụ và cung cấp chính thức khi được Bộ TT&TT cho phép. Bên cạnh đó, VNPT sẽ triển khai dịch vụ Wifi thương hiệu VNPT trên toàn quốc; tập trung phát triển hạ tầng mạng NGN cung cấp các dịch vụ đa phương tiện và đẩy mạnh phát triển truy nhập quang đến nhà thuê bao. Ông Hoàn đưa ra kiến nghị Bộ TT&TT sử dụng nguồn vốn từ Quỹ VTCI hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc đầu tư, phát triển hạ tầng VT và CNTT, trước mắt phát triển truy nhập cáp quang đến tổ chức, cơ quan, chính quyền, các cơ sở y tế, giáo dục cấp xã, phường, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Ông Hoàn cũng cho rằng thiết bị đầu cuối là một trong những yếu tố quyết định tới khả năng sử dụng dịch vụ VT - CNTT. Theo thống kê đến năm 2010, tỷ lệ hộ gia đình có máy tính mới là 15% và số hộ gia đình có máy thu hình đạt gần 90% nhưng đa số là máy thu hình analog. Vì vậy, cần có những chính sách hạ giá thành đầu cuối, đẩy mạnh công nghệ truyền thông số đến người dân. Bộ TT&TT cần nghiên cứu để có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thiết bị đầu cuối (máy tính, tablet, smartphone…) giá rẻ để nhiều người dân có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ VT và CNTT hiện đại.

Nội dung đăng trên báo Bưu điện Việt Nam số 7 ra ngày 16/1/2013