Năm 1980, Seagate Technology cho ra đời ổ đĩa ST-506 là ổ đĩa 5,25 inch đầu tiên có dung lượng 5 MB nhưng không bán cho người dùng mà chỉ bán cho các nhà sản xuất máy tính. Giữa thập niên 1990, ổ đĩa cứng bắt đầu xuất hiện trong các cửa hàng bán lẻ.

Dung lượng ổ đĩa cứng tăng trưởng theo hàm mũ với thời gian. Đối với những máy PC thế hệ đầu, ổ đĩa dung lượng 20 megabyte được coi là lớn. Cuối thập niên 1990 đã có những ổ đĩa cứng với dung lượng trên   1 gigabyte. Vào thời điểm đầu năm 2005, ổ đĩa cứng lắp trong có dung lượng lớn nhất lên tới một nửa terabyte (500 GB), và những ổ đĩa lắp ngoài đạt xấp xỉ một terabyte.

Bên phải là ổ đĩa cứng 5,25 inch dung lượng 110MB (bên phải) sản xuất giữa thập niên 1990, bên trái là ổ đĩa cứng 2,5 inch dung lượng 160GB thông dụng cho máy tính xách tay ngày nay.

Các loại ổ đĩa thông dụng

Cùng với lịch sử phát triển của PC có các họ ổ đĩa cứng lớn là MFM, RLL, ESDI, IDE, EIDE (chuẩn parallel ATA), SCSI (Small Computer System Interface) và mới nhất là SATA (Serail ATA).

- Thời gian ban đầu các ổ đĩa cứng được ghép nối với bản mạch chủ của máy PC bằng một cạc mở rộng được gọi là cạc điều khiển ổ cứng (MFM, RLL, ESDI).

- Khi giá linh kiện điện tử giảm do số lượng sản xuất tăng cao và thể tích linh kiện ngày càng nhỏ lại, cạc điều khiển rời này đã được đặt lên trên chính ổ đĩa cứng (SCSI, IDE, EIDE, SATA) và trong quá trình phát triển, một bộ nhớ đệm được thêm vào mạch điện tử để tăng tốc việc đọc ghi dữ liệu trên ổ đĩa cứng. Các ổ đĩa IDE chậm hơn ổ đĩa SCSI do không có bộ nhớ đệm lớn như các ổ đĩa SCSI và không có khả năng ghi trực tiếp lên RAM.

(Còn tiếp)

Đọc toàn bộ bài viết trên Báo Bưu điện Việt Nam số 45 ra ngày 5/6/2008