![]() |
Giáo sư Nguyễn Quang A. Ảnh: Kim Long |
Bắt đầu từ sử dụng CNTT một cách văn minh
ICTnews - “Chính phủ là người sử dụng CNTT lớn, hãy là người sử dụng gương mẫu, nghiêm túc và có văn hoá. Bởi cái đó có thể thúc đẩy thị trường rất đáng kể”.
Ngày 24/8 vừa qua, Thủ tướng đã có ý kiến chỉ đạo Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ban Chỉ đạo Quốc gia về công nghệ thông tin trình các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ thông tin.
Nhân dịp này, ICTnews sẽ trích đăng các ý kiến đóp góp của các chuyên gia, doanh nghiệp Hiến kế nâng cao năng lực cạnh tranh CNTT. Và bài viết này chính là ý kiến đầu tiên của giáo sư Nguyễn Quang A, một trong những chuyên gia CNTT hàng đầu Việt Nam.
"Hiện nay các cơ quan nhà nước đang sử dụng CNTT rất lãng phí, không hiệu quả, thiếu văn hoá, không gương mẫu. Sự lãng phí có thể thấy ở bất kỳ đâu, được nói nhiều nhất là Đề án 112 hay chuyện tỉnh này tỉnh nọ mua máy chủ hiện đại rồi đắp chiếu là chuyện không hiếm".
Để thúc đẩy CNTT đất nước, trước tiên chính phủ phải gương mẫu trả tiền đàng hoàng, sử dụng CNTT một cách văn minh cho nhu cầu của chính mình, làm tăng năng suất hoạt động của chính mình. Trở thành người sử dụng CNTT có hiệu quả, văn minh, có văn hoá. Chỉ cần như thế là đã thúc đẩy rất lớn cho sự phát triển CNTT trong nước. Với tư cách là người dùng, Chính phủ phải chú trọng đào tạo người của mình. Việc đào tạo bài bản cho bản thân cơ quan nhà nước, nếu làm khéo có thể tiết kiệm khoảng 30% kinh phí đầu tư cho CNTT.
Để cơ quan nhà nước ứng dụng CNTT hiệu quả, quan trọng nhất là CNTT phải gắn với chuyện tái cơ cấu lại chính cơ quan đấy. Quy trình làm việc phải thiết kế lại đàng hoàng, cắt bỏ những việc thừa hoặc thêm bớt để có một quy trình làm việc khoa học. Tôi nghĩ, việc này không khó, các công ty tư vấn Việt Nam giờ họ hoàn toàn có thể làm được nhưng chính phủ phải trả tiền cho họ làm việc đó.
Sau khi hoàn tất việc tái cơ cấu lại quy trình làm việc trong các cơ quan nhà nước mới tính chuyện đưa CNTT vào. Việc đào tạo cũng phải gắn với quy trình.
Bài học nữa rút ra từ Đề án 112 và cũng là kinh nghiệm từ khắp nơi trên thế giới là nếu người đứng đầu cơ quan không làm chủ dự án (thí dụ, với đề án chính phủ điện tử là Thủ tướng, các hệ thống con hay phần hệ thống ở Bộ, địa phương các Bộ trưởng, Chủ tịch tỉnh, Thành phố phải làm chủ), thì dự án chắc chắn thất bại. Bởi vì cải cách hành chính liên quan đến những vấn đề tổ chức bộ máy, thay đổi quy trình, thay đổi các quy định (thậm chí thay đổi cả luật và khi đó chỉ có những người đứng đầu này mới có thể quyết định). Chủ dự án quyết định mọi vấn đề liên quan đến đề án như: phạm vi đề án, chuẩn y các quy trình (kéo theo việc ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật vào giai đoạn đưa hệ thống vào cuộc sống và việc chuẩn bị chúng là một phần hết sức quan trọng của đề án), những kết quả dự kiến, tổ chức (người, quản lý sự thay đổi, giải quyết các loại xung đột), ngân sách, kế hoạch phát triển, triển khai, đào tạo, bảo dưỡng và duy tu hệ thống v.v. trên cơ sở những kiến nghị, kế hoạch của các tổ chức giúp việc (Ban quản lý đề án, các nhà tư vấn, chuyên gia độc lập, những người dùng là các cơ quan trung ương và địa phương v.v.).
Chất lượng nhân lực CNTT
"Nhà trường, người học và người sử dụng tự do tìm hiểu nhu cầu của nhau. Việc nhà nước đưa giáo trình khung là kiềm chế" |
Chất lượng đào tạo bản thân nhà nước không làm được gì, bởi đào tạo là dịch vụ. Đó là việc của các trường, các công ty và của các khách hàng. Nhà nước mua dịch vụ đào tạo để các quan chức sử dụng CNTT hiệu quả hơn, chính sách vĩ mô cũng chẳng cần ưu ái mà hãy để cho các trường, các doanh nghiệp tự do đào tạo.
Với đào tạo CNTT, việc đưa ra chương trình khung là không nên mà hãy để các trường hay các doanh nghiệp tự chủ động. Ví dụ, tỉnh Lào Cai thì phải đào tạo khác với Hà Nội. Hay Bắc Ninh đào tạo nhân lực cho nhà máy Foxcon thì phải khác với TP.HCM đào tạo nhân lực cho Intel. Nói cách khác nhà trường, người học và người sử dụng tự do tìm hiểu nhu cầu của nhau. Việc nhà nước đưa giáo trình khung là kiềm chế. Tôi ở Đại học Sư phạm 3 năm, để lên khung chương trình CNTT tối thiểu phải mất khoảng 7 tháng, cộng với thời gian chờ Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt thì chương trình đó đã lạc hậu rồi, vì CNTT thay đổi xoành xoạch.
Đấy có lẽ là điểm mấu chốt ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nhân lực CNTT. Với đào tạo phổ thông thì có thể cần chương trình khung, nhưng đào tạo ở mức chuyên nghiệp thì nhân tố thị trường là yếu tố quyết định. Nội dung đào tạo, dạy thế nào và giá bao nhiêu phải do các trường tự định đoạt, Bộ Giáo dục và Đào tạo không nên ấn định.
Công nghiệp: Đừng lo ‘chảy máu’ chất xám
Công nghiệp phần mềm và phần cứng đang có dấu hiệu phát triển tốt. Phần mềm phát triển được như hiện nay là khá tốt, chúng ta đừng có ảo tưởng mà hay nâng niu. Hỗ trợ tốt nhất là ngành phần mềm là nhà nước đừng có can thiệp gì, hay để các công ty tự do phát triển và có chính sách thông thoáng thu hút đầu tư. Ví dụ chính sách thông thoáng thu hút Việt kiều về lập công ty. Đừng lo ngại chuyện ‘chảy máu’ chất xám, hãy để chất xám tự do ‘chảy máu’. 100 Việt kiều ra đi chỉ cần 10 người trở về lập công ty là đã rất tốt, đây là những công ty có trình độ cao, có quan hệ rộng rãi với thế giới bên ngoài.
Việc Việt Nam lập quỹ bảo hiểm, nhà nước bỏ tiền ra đầu tư làm ra những sản phẩm 100% của Việt Nam là ý tưởng của những người không hiểu về ngành CNTT |
Công nghiệp phần cứng bây giờ mới đang đi đúng hướng. Foxcon Hồng Hải mới đây đầu tư, trước đó là Canon, Intel... việc mở rộng cửa cho các doanh nghiệp sản xuất vào đầu tư là một bước đi đúng hướng. Từ những năm 90, tôi đã kêu gọi những lãnh đạo nhà nước đi mời chào những doanh nghiệp sản xuất vào đầu tư tại Việt Nam. Việc đầu tư của những doanh nghiệp này trước mắt thu hút được lực lượng lao động lớn, chưa phải đòi hỏi kỹ năng cao, đa phần chỉ đào tạo vài tháng là có thể sử dụng được. Những việc cao cấp hơn như phần mềm, dịch vụ CNTT, cai quản call center cũng đã có những doanh nghiệp nước ngoài quan tâm, cụ thể nhất là việc gần đây IBM mở trung tâm dịch vụ phần mềm ở TP.HCM.
Việc Việt Nam lập quỹ bảo hiểm, nhà nước bỏ tiền ra đầu tư làm ra những sản phẩm 100% của Việt Nam là ý tưởng của những người không hiểu về ngành CNTT, không hiểu toàn cầu hoá hiện nay vận hành như thế nào.
Các đánh giá của nước ngoài về CNTT Việt Nam chỉ có tính chất tham khảo. Đừng buồn khi họ đánh giá mình thấp và cũng đừng có phổng mũi khi họ đánh giá mình cao. Vẫn phải tự soi mình là chính. Ngành này có bao nhiêu người làm, tạo ra bao nhiêu sản phẩm và đóng góp thế nào cho GDP".
Đ.Duy ghi
