Theo thông tin từ Cục CNTT, Bộ Y tế, ứng dụng CNTT trong hoạt động khám chữa bệnh của Bệnh viện Quận Thủ Đức, TP.HCM, Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Nhi Đồng 1, Bệnh viện Gang thép Thái Nguyên đã triển khai hiệu quả bệnh án điện tử và số hóa kho hồ sơ bệnh án.
Bệnh viện quận Thủ Đức, TP.HCM sau hơn 2 năm ưu tiên đầu tư nguồn lực đã triển khai thành công bệnh án điện tử trong toàn bệnh viện. Các bác sĩ và điều dưỡng của bệnh viện đã quen thuộc với hồ sơ bệnh án điện tử, mọi thao tác của bác sĩ, điều dưỡng từ ghi dấu hiệu của bệnh nhân sau khi thăm khám, diễn tiến bệnh, đến chỉ định thuốc, chỉ định xét nghiệm, thực hiện y lệnh,… đều được thao tác trên máy tính bảng và máy tính để bàn kết nối mạng của bệnh viện. Khi hoàn tất một đợt nằm viện điều trị, hồ sơ bệnh án điện tử được in ra và lưu trữ theo đúng quy định.
Không dừng lại ở bệnh án điện tử, Bệnh viện Quận Thủ Đức đã bắt đầu lộ trình số hoá tất cả hồ sơ bệnh án giấy đã được lưu trữ trong kho hồ sơ ở thời điểm trước khi triển khai bệnh án điện tử. Đã có gần 6.000 hồ sơ giấy từ năm 2015 trở về trước được scan toàn bộ bằng máy scan chuyên dụng. Việc số hoá kho hồ sơ bệnh án giúp lưu trữ hồ sơ bệnh án được an toàn hơn, thời gian lâu hơn, đặc biệt giúp cho các bác sĩ dễ dàng truy cập hồ sơ bệnh án cũ phục vụ công tác điều trị và nghiên cứu khoa học của bệnh viện.
Ngoài ra, Bệnh viện Quận Thủ Đức đã triển khai thành công việc ứng dụng CNTT trong toàn bộ các quy trình hành chính của bệnh viện.
![]() |
Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu, Bệnh viện Bạch Mai, một trong những đơn vị tiên phong của Bệnh viện đã áp dụng thử nghiệm đưa thẻ khám chữa bệnh điện tử nhỏ gọn như thẻ ATM với rất nhiều tiện ích cho bệnh nhân. Chỉ cần sở hữu một thẻ khám chữa bệnh điện tử mua thẻ tại Khoa khám chữa bệnh theo yêu cầu, bệnh nhân sẽ có mã số, mã vạch và mật khẩu để có thể truy cập trang web của Bệnh viện Bạch Mai bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu miễn là có đường truyền Internet.
Thẻ khám chữa bệnh điện tử giống như một bệnh án điện tử, mỗi lần đi khám chữa bệnh, bệnh nhân không phải mang nhiều giấy tờ, hồ sơ bệnh án, không phải chờ đợi làm các thủ tục, xét nghiệm, thăm khám lại, mà bác sỹ điều trị vẫn có thể xác định tương đối chính xác phác đồ điều trị bởi mọi thông tin bệnh án như tiền sử bệnh, triệu chứng, kết quả xét nghiệm, đơn thuốc, các chất chống chỉ định cũng như tất cả thông tin liên quan qua các lần khám chữa bệnh điều trị... đã được lưu giữ tại hệ thống máy tính bệnh viện. Người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh còn có thể liên hệ trực tiếp, gửi e-mail cho các bác sỹ điều trị; vào hệ thống đọc các thông tin liên quan đến bệnh lý, tự so sánh đánh giá, tự xác định kết quả khám chữa bệnh với các mức chi phí quy định. Việc này không những tạo ra nhiều thuận lợi cho người bệnh mà còn góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và đẩy nhanh việc giải quyết thủ tục hành chính cho bệnh nhân của Khoa.
Ở Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP.HCM, trước đây, thời gian chờ khám trung bình 1 bênh nhân là 30 phút, nhưng khi ứng dụng CNTT thì thời gian chờ đợi đã giảm hơn nửa, thời gian chờ mua thuốc trước là 45 phút nay còn khoảng 10 phút; thời gian làm thủ tục xuất viện trước từ 2- 4 giờ, nay chỉ còn… 15 phút. Việc kê đơn thuốc trước đây nhiều người kêu ca về chữ bác sĩ xấu, khó đọc nay nhờ áp dụng mô hình quản lý bằng CNTT mà đơn thuốc được in trên giấy vi tính dễ đọc, lãnh đạo bệnh viện lại dễ dàng quản lý việc kê đơn thuốc nhằm giảm tình trạng các đơn thuốc chưa hợp lý đến tay người bệnh.
Bệnh viện Gang thép Thái Nguyên cũng được đánh giá cao trong việc làm chủ CNTT và ứng dụng thành công CNTT trong quản lý bệnh viện đã đem lại những hiệu quả rất thiết thực. 100% bệnh nhân đã được quản lý trên mạng của bệnh viện với mã số riêng giúp cho việc tra cứu các kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh từ những lần khám trước rất nhanh chóng trong thời gian khoảng 1 phút thay cho việc phải chờ đợi các thủ tục hành chính để rút các hồ sơ bệnh án như trước (kéo dài gần 1 ngày).
Các khoa dự trù và cấp phát thuốc qua mạng do đó người bệnh được công khai thuốc hàng ngày qua các phiếu in trên mạng có đầy đủ thông tin về tên thuốc, làm lượng, số lượng, nước sản xuất… đến giá tiền. Đối với hoạt động của bệnh viện, việc ứng dụng CNTT đã giúp phòng chức năng kiểm tra được các thất thu về tài chính, làm giảm tỷ lệ thất thu trong toàn bệnh viện từ trung bình trên 10 triệu đồng/tháng xuống còn dưới 1 triệu đồng/ tháng… CNTT giúp giảm 2/3 thời gian giải quyết thủ tục hành chính tạo điều kiện cho cho các thầy thuốc có thêm thời gian chăm sóc và tiếp xúc bệnh nhân.
Việc Ứng dụng CNTT trong ngành Y tế đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay. Tại một số bệnh viện lớn, đây được coi là giải pháp hữu hiệu nhằm góp phần nâng cao dịch vụ y tế.
