Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại bột ăn dặm, tuy nhiên chọn sản phẩm nào phù hợp với bé là băn khoăn của không ít các bà mẹ…

Tăng 200g/tuần vẫn chưa phải ăn dặm


Chị Nguyễn Thanh Hương ở phố Thuỵ Khê, Hà Nội đang nuôi con nhỏ 9 tháng. Chị cho biết, từ ngày con chị đến thời kỳ ăn dặm đến giờ, chị chỉ mua bột ăn dặm ngoại nhập vì tin tưởng vào chất lượng của các sản phẩm này, dù giá thành khá cao.


Chị Vũ Mai Hoa, ở phố Cát Linh lại khác, cứ nghe giới thiệu bột ăn dặm nào có hàm lượng các chất dinh dưỡng nhất là canxi, protein, sắt cao “chót vót” là chị mua về cho con 11 tháng tuổi ăn với suy nghĩ càng nhiều chất, hàm lượng càng cao càng tốt cho sự phát triển của con. Con chị hay bị táo bón nhưng vẫn dùng các sản phầm này với lý do: “Bị táo bón như vậy nhưng ăn nhiều các chất với hàm lượng cao thì dù không làm cho người bụ bẫm song vẫn “ngấm” vào cơ thể làm cho trẻ khoẻ”.

Hiện có rất nhiều bà mẹ lựa chọn bột ăn dặm cho con như chị Hương và chị Hoa, nghĩa là hoàn toàn… cảm tính mà không dựa trên một cơ sở khoa học nào. Phần lớn những bà mẹ nuôi con nhỏ ở Việt Nam chưa có thói quen tham gia lớp tư vấn dành cho những người chuẩn bị làm mẹ.

Các chuyên gia nhi khoa của Bỉ đã cung cấp những thông tin rất cần thiết cho những bà mẹ nuôi con nhỏ đặc biệt thông qua chính sản phẩm Ninolac, một loại bột ăn dặm cũng chính của quê hương các nhà khoa học.

Trước hết về độ tuổi ăn dặm, theo họ không quy định nhất thiết vào tháng tuổi nào mà quan trọng phụ thuộc vào trọng lượng của trẻ. Nếu thấy trẻ tăng đều đặn 200g mỗi tuần thì đó chưa phải là lúc trẻ ăn dặm do sữa mẹ vẫn cung cấp đủ các chất dinh dưỡng.

Nhưng nếu không đạt mức tăng trưởng ấy cùng với những dấu hiệu: bé vẫn khóc đòi ăn sau khi đã bú mẹ, đêm bé ngủ không ngon do đói, vậy là đến lúc bé phải ăn dặm. Tuy nhiên, trước khi ăn dặm phải tập bằng cách cho bé uống nước canh, nước cháo, nước hoa quả.

Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo, mặc dù không quy định đối với tuổi ăn dặm, nhưng tốt nhất vẫn nên trước 6 tháng nếu không để lâu quá, sau này, tập ăn dặm cho trẻ rất khó, ngay hệ tiêu hoá của trẻ khi ấy cũng khó thích ứng.

Nhiều không phải là tốt

Cũng như sữa, trong bột ăn dặm có nhiều vi chất, khoáng chất… rất cần thiết cho cơ thể, đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ về mọi mặt đồng thời phòng ngừa bệnh tật cho trẻ không chỉ trong giai đoạn này mà còn cả về sau. Song với bao nhiêu chất, hàm lượng bao nhiêu thì bột ăn dặm có thể phát huy những hiệu quả như vậy?

Các bác sĩ nhi khoa Bỉ khuyến cáo cụ thể như protein, không nên vượt quá 5,5g/kcal. Bởi nếu nhiều protein trong khẩu phần ăn sẽ làm cho bé có nguy cơ béo phì và bị bệnh thận ở giai đoạn sau do chất ni tơ, được sinh ra trong quá trình phân giải protein là một chất vô cùng độc hại đối với thận.


Đối với canxi, do sự hấp thụ của cơ thể đối với chất này kém hơn so với những chất khác và trong trường hợp hàm lượng nhiều quá dễ dẫn đến những bệnh lý về thận hoặc ít quá sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến xương, răng… nên canxi theo tiêu chuẩn Châu Âu quy định: chỉ số thấp nhất phải là 80mg/100kcal để cung cấp đủ cho trẻ trong giai đoạn phát triển toàn diện của trẻ.

Cùng với canxi, phốt pho, một chất đóng vai trò tích cực trong quá trình hình thành màng tế bào, các chất dự trữ năng lượng của cơ thể nên ở trong khoảng 76 – 96mg/100kcal. Còn tỷ lệ lý tưởng của phốt pho/canxi Tiêu chuẩn Châu Âu quy định: 1,2/1,7.

Với hàm lượng sắt dao động trong khoảng 3mg/100kcal. Kẽm chỉ nên ở hàm lượng: 7mg/100kcal do hệ tiêu hoá của trẻ chưa có khả năng tiêu thụ nhiều vì chất này chỉ có trong những thức ăn như thịt, cá…

Các nhà nhi khoa Bỉ và những chuyên gia dinh dưỡng tham gia xây dựng Tiêu chuẩn Châu Âu khuyến cáo chọn bột ăn dặm cho trẻ hàm lượng nên ở những chỉ số trên để tốt hơn cho sức khoẻ của trẻ đồng thời đáp ứng đủ nhu cầu phát triển mà trẻ cần.

Bột ăn dặm Ninolac của Bỉ đạt tiêu chuẩn Châu Âu với các chỉ số:
Năng lượng nói chung: 100kcal/100ml
Protein: 3,5 – 3,8g/100kcal (tuỳ theo từng loại cho từng giai đoạn)
Prebiotic (chất xơ): 3,5 – 4,8%
Canxi: 98-160mg/100kcal
Phốt pho/canxi: 1,2 – 1,7
Sắt: 2,9 – 3mg/100kcal
Axit Folic: 50micrôgam/100g
Kẽm: 7mg/100g


Thúy Ngà