![]() |
| Những chiếc xe "bọ rùa sắt" chuyên phát sóng viba |
Chỉ sau vẻn vẹn vài tháng bồi dưỡng kiến thức về hệ thống viba RVG-950, hơn 200 cán bộ kỹ thuật đã có thể thao tác thành thạo, quản lý tốt các công trình viba, góp phần không nhỏ vào việc đảm bảo mạng lưới thông tin thông suốt, phục vụ sản xuất và kháng chiến.
Gấp rút đào tạo
Cuối năm 1968, sau khi 2 đoàn cán bộ Cục Điện chính và Cục Kiến thiết cơ bản (KTCB) kết thúc thời gian học tập ở Đức trở về, Tổng cục Bưu điện (TCBĐ) đã chủ trương gấp rút chuẩn bị cho việc triển khai xây dựng các tuyến viba, trong đó quan trọng nhất là đào tạo lớp cán bộ quản lý viba trong nước để chuẩn bị nhân lực sử dụng và quản lý các tuyến, trạm viba sau này. Công việc này được lãnh đạo TCBĐ giao cho Cục KTCB chủ trì. Ông Phùng Phát Minh, nguyên cán bộ Cục KTCB kể lại: “Tháng 8/1968, tôi tốt nghiệp kỹ sư thông tin nhiều kênh ở Liên Xô thì tháng 10 năm đó chính thức nhận công tác tại Cục KTCB. Ngay sau đó, tôi được phân công cùng một số anh em trong Cục đi dọc tuyến đường từ Hà Nội vào Đồng Hới (Quảng Bình) để khảo sát, xác định điểm phù hợp đặt các trạm viba. Bên cạnh đó, tôi còn được giao cùng với 12 cán bộ vừa kết thúc đợt học tập tại Đức tổ chức đào tạo Khóa Viba 1 - những người sẽ trực tiếp quản lý các tuyến viba đầu tiên của nước ta. Khi mở Khóa Viba 1, hệ thống máy viba RVG-950 vẫn chưa được chuyển về nên thầy trò chủ yếu dạy và học theo các tài liệu tự tập hợp, biên dịch và dựa vào sơ đồ, bản thuyết minh kỹ thuật của máy RVG-950. Do nhu cầu cấp thiết phải đẩy nhanh việc xây dựng mạng lưới viba đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thời gian học của Khóa Viba 1 chỉ gói gọn trong vài tháng. Mục tiêu đặt ra là sau khóa học, các học viên nắm vững kiến thức, thao tác thành thạo với hệ thống máy viba RVG-950, từ cách dựng ăng-ten đến việc điều chỉnh tần số thu-phát sóng giữa các trạm.”
Tháng 12/1968, hơn 200 anh chị em học viên khóa Viba 1, chủ yếu là các cán bộ kỹ thuật vừa tốt nghiệp trường Trung cấp Bưu điện Nam Hà, tập trung về làng Đông Ba, thuộc xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm (nơi sơ tán của Cục KTCB) để được bổ túc, bồi dưỡng thêm kiến thức về thiết bị viba, cách sử dụng và quản lý máy thông tin viba RVG-950. Bà Nguyễn Thị Hải, một học viên Khóa Viba 1 bồi hồi nhớ lại: “Ngày đó, chúng tôi được ra trường sớm trước nửa năm để chuẩn bị đi B phục vụ chiến trường miền Nam. Tuy nhiên, cuối cùng chúng tôi lại được lệnh tập trung về Đông Ba học về hệ thống máy viba RVG-950. Trong khoảng 4 tháng học tại đây, chúng tôi đã thuộc “như cháo chảy” các lý thuyết về máy móc trên xe thông tin viba, thông thuộc hết các sơ đồ mạch điện của từng thiết bị... Nhờ nắm vững lý thuyết nên sau này, chúng tôi đã nhanh chóng thành thạo các thao tác đối với hệ thống máy móc RVG-950 trên các xe rơ-bua thông tin vẫn thường được anh em gọi là những “con bọ rùa sắt”.
Buổi đầu gian nan
Đầu tháng 6/1969, TCBĐ quyết định bắt tay vào triển khai xây dựng các tuyến thông tin vô tuyến chuyển tiếp đầu tiên. Đội ngũ học viên Khóa Viba 1 đã được “tung” ngay vào các tuyến, tham gia xây dựng và quản lý các công trình viba. Ông Phùng Phát Minh nhớ lại: “Khoảng vài ngày trước khi triển khai tuyến viba mới, những học viên Khóa Viba 1 chuẩn bị đi quản lý các tuyến viba đều được đưa sang đài thu Quế Dương, điểm tập kết của 72 xe rơ-bua thông tin RVG-950, để trực tiếp nhận thiết bị RVG-950 trong các xe thông tin. Khi các xe này lên đường thì đều có các cán bộ quản lý kỹ thuật đi theo và ở lại “giữ” trạm trên tuyến luôn”.
Nói đến những hy sinh của “đội” viba, ông Mai Liêm Trực, nguyên Tổng cục trưởng TCBĐ không khỏi xúc động: “Trong thời kỳ chiến tranh, không ai ngồi “so đếm” về sự gian khổ, hy sinh. Tuy nhiên, phải nói rằng trong ngành viễn thông của Việt Nam, nếu nói về sự gian khổ, hy sinh thì “dân” viba chỉ xếp sau các thợ dây, thợ máy - những người phải xuyên rừng lội suối để kéo dây, dựng cột. Đặc biệt, trong khi các thợ dây, thợ máy chủ yếu là nam giới thì quân viba thời kỳ đầu đa số là nữ giới. Tôi còn nhớ, do đặc thù công việc của Trung tâm viba thời kỳ đầu là liên tục phát triển các tuyến viba mới nên các cán bộ thường được luân chuyển đi xây dựng tuyến mới. Nhiều gia đình của các cô gái viba băn khoăn không biết con gái mình làm gì mà nay ở Hà Nội, mai lại ở Móng Cái, Thác Bà, Sơn La, Đô Lương… Hồi đó có cô còn than với tôi: “Ở nhà tưởng em bị kỷ luật nên bị đơn vị “đày” đi các nơi”. Nghe thật xót xa. Không những thế, đa số các trạm được đặt trên đỉnh núi, đỉnh đồi để tận dụng độ cao nên các kỹ thuật viên đã phải rất vất vả khi vận chuyển máy máy móc, thiết bị lên trạm. Công việc nặng nhọc nhưng điều kiện ăn ở lại rất kham khổ. Những lúc xe tiếp tế chưa lên kịp, anh chị em trực trạm không có gì ăn, phải đi hái rau rừng ăn tạm, có khi lại phải ngủ ngay trong thùng xe rơ-bua nóng hầm hập...”
Sau Khóa Viba 1, để củng cố đội ngũ nhân lực cho mạng lưới thông tin vô tuyến chuyển tiếp, TCBĐ tiếp tục đẩy mạnh tổ chức các khóa huấn luyện về hệ thống máy RVG-950. Ông Trương Văn Thoan, nguyên Tổng cục phó TCBĐ, khi đó là Trưởng phòng Kỹ thuật của Cục KTCB được giao phụ trách công tác đào tạo các cán bộ kỹ thuật, công nhân quản lý các trạm viba, bảo dưỡng và sửa chữa máy móc trên các tuyến viba. Đặc biệt, từ sau những năm 1970, các lớp kỹ sư chuyên ngành vô tuyến đầu tiên của Đại học Thông tin Liên lạc (nay là Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông) ra trường, đã bổ sung kịp thời vào đội ngũ quản lý, xây dựng các tuyến, trạm viba, giúp mạng lưới thông tin viba ngày càng được củng cố vững chắc, giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thông tin thông suốt.
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 55 ra ngày 8/5/2009