Việc ban hành Văn kiện Đại hội XIV đánh dấu một bước chuyển mình sâu sắc trong nhận thức và phương thức quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. 

Không chỉ kế thừa những thành tựu từ Đại hội XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những điều chỉnh mang tính đột phá, sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Với kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm trong ngành, có thể thấy Văn kiện Đại hội XIV đã đưa ra những định hướng vừa mang tầm chiến lược, vừa giải quyết trực diện những "điểm nghẽn" trong công tác tôn giáo hiện nay. Những điểm mới này được thể hiện rõ qua 5 phương diện cốt lõi.

ton giao 1.jpg
Với sự quan tâm của tỉnh Kon Tum (nay là tỉnh Quảng Ngãi), các cơ sở tôn giáo được xây dựng khang trang, tạo điều kiện thuận lợi cho các tín đồ tôn giáo tham gia sinh hoạt.

Bước tiến lớn trong nhận thức lý luận và quyền tự do tín ngưỡng

Ở Đại hội XIII, nhận thức lý luận chủ yếu tập trung vào tính nhất quán trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp cùng các nguồn lực của tôn giáo đóng góp cho đất nước.

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc. Điều này cho thấy sự thấu hiểu và tôn trọng sâu sắc đời sống tâm linh của đồng bào.

Tuy nhiên, đến Văn kiện Đại hội XIV, nhận thức này đã có một "bước phát triển quan trọng". Lần đầu tiên, Đảng khẳng định rõ ràng và sâu sắc hơn: tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc. Điều này cho thấy sự thấu hiểu và tôn trọng sâu sắc đời sống tâm linh của đồng bào.

Đặc biệt, Văn kiện đã bổ sung một điểm vô cùng tiến bộ mang tầm vóc quốc tế, đó là việc tôn trọng quyền "không tín ngưỡng, tôn giáo" của người dân. Cùng với đó, việc xác định đoàn kết tôn giáo là yêu cầu quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đã nâng tầm công tác tôn giáo thành một trụ cột trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhìn thẳng vào sự thật trong đánh giá thực trạng và quản lý nhà nước

Một trong những điểm ấn tượng nhất của Văn kiện Đại hội XIV là tinh thần phê bình và tự phê bình rất cao. Nếu như Văn kiện Đại hội XIII chủ yếu đánh giá tình hình tôn giáo cơ bản ổn định, đa số chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và đồng hành cùng dân tộc; thì Đại hội XIV lại thể hiện một góc nhìn vô cùng thực tế.

Văn kiện mới đã nhìn nhận thẳng thắn vào các hạn chế hiện hữu. Cụ thể, Đảng chỉ rõ việc quản lý một số hoạt động văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng còn bất cập, thậm chí có dấu hiệu bị buông lỏng. Sự thẳng thắn này là tiền đề then chốt để các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương xốc lại đội hình, siết chặt kỷ cương và hoàn thiện khung pháp lý, tránh tình trạng "cưỡi ngựa xem hoa" trong quản lý nhà nước về tôn giáo.

Chính thức hóa và đặt trọng tâm vào "An ninh tôn giáo"

Thực tiễn phức tạp của thế giới và khu vực đòi hỏi một nhãn quan an ninh sắc bén hơn. Đại hội XIII đã nhấn mạnh việc xử lý hài hòa các vấn đề tôn giáo, không để xảy ra "điểm nóng" và kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết.

Kế thừa điều đó, Văn kiện Đại hội XIV đã tiến thêm một bước dài khi chính thức chú trọng khái niệm "an ninh tôn giáo". Đây là một sự cập nhật khái niệm mang tính chiến lược. Văn kiện đặt ra yêu cầu bảo đảm ngày càng vững chắc an ninh tôn giáo tại các địa bàn chiến lược, trọng điểm, kiên quyết không để xảy ra "điểm nóng". Đồng thời, Đảng yêu cầu phải chủ động xử lý hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự gây bức xúc, thể hiện tư duy "phòng bệnh hơn chữa bệnh", chủ động ngăn chặn từ sớm, từ xa các nguy cơ.

Đổi mới phương thức lãnh đạo và phát huy vai trò "lực lượng nòng cốt"

Về phương thức lãnh đạo và vận động, Đại hội XIII tập trung vào việc vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống "tốt đời, đẹp đạo".

ton giao.jpg
Đại đức Thích Nhuận Hiển, Trụ trì chùa Huệ Chiếu, tỉnh Quảng Ngãi trao đổi với phật tử đồng bào dân tộc thiểu số.

Chuyển sang Đại hội XIV, Đảng đặt ra yêu cầu cao hơn là phải "đổi mới phương thức lãnh đạo, vận động, tập hợp". Điểm nhấn đặc biệt ở đây là giải pháp tăng cường xây dựng lực lượng nòng cốt, chính là những người có uy tín trong tôn giáo. Trong công tác thực tiễn, việc tranh thủ được sự đồng thuận của chức sắc, chức việc có uy tín chính là chìa khóa để vận động quần chúng tín đồ. Thêm vào đó, Văn kiện yêu cầu phải có cơ chế đặc thù, hiệu quả để theo dõi, tổng hợp tình hình tôn giáo. Đây là "chiếc gậy chỉ đường" để ngành quản lý nhà nước sớm xây dựng các công cụ giám sát, phân tích dữ liệu chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại.

Công tác phát triển Đảng vùng đồng bào có đạo

Công tác xây dựng Đảng ở vùng tôn giáo là một bài toán khó mang tính lịch sử. Tại Đại hội XIII, nội dung này không nêu đậm nét thành tựu hay hạn chế chuyên biệt về vùng tôn giáo mà chủ yếu đề cập trong định hướng chung về phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

 Tư duy của Đảng về công tác tôn giáo đang ngày càng hoàn thiện, bao dung hơn nhưng cũng thực tế và chặt chẽ hơn. Từ việc tôn trọng tuyệt đối nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân đến việc thẳng thắn chấn chỉnh quản lý nhà nước, đề cao an ninh tôn giáo và đổi mới phương thức vận động...

Đến Đại hội XIV, Đảng đã ghi nhận một thành tựu mang tính bước ngoặt: cơ bản xóa được tình trạng "trắng" đảng viên ở thôn, bản vùng tôn giáo. Đồng thời, tỉ lệ đảng viên là người theo tôn giáo ngày càng tăng. Đây là minh chứng rõ nét cho sức hút và uy tín của Đảng đối với quần chúng tín đồ. Tuy nhiên, không tự mãn với thành tích, Đảng vẫn thẳng thắn chỉ ra những bất cập trong xây dựng tổ chức đảng, quản lý đảng viên vùng tôn giáo và tiếp tục định hướng quan tâm phát triển đảng viên khu vực này.

Nhìn tổng thể so sánh nội dung về tôn giáo giữa Văn kiện Đại hội XIII và Văn kiện Đại hội XIV, có thể khẳng định tư duy của Đảng về công tác tôn giáo đang ngày càng hoàn thiện, bao dung hơn nhưng cũng thực tế và chặt chẽ hơn. Từ việc tôn trọng tuyệt đối nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân đến việc thẳng thắn chấn chỉnh quản lý nhà nước, đề cao an ninh tôn giáo và đổi mới phương thức vận động, tất cả đều hướng tới một mục tiêu chung: Phát huy tối đa nguồn lực của các tôn giáo, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Tiêu chí  Văn kiện Đại hội XIII Văn kiện Đại hội XIV
Nhận thức lý luận về tôn giáo Nhất quán bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của tôn giáo đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước. Nhận thức có "bước phát triển quan trọng", khẳng định tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc; bổ sung việc tôn trọng quyền "không tín ngưỡng, tôn giáo" của người dân. Xác định đoàn kết tôn giáo là yêu cầu quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
Đánh giá thực trạng và quản lý nhà nước Đánh giá tình hình tôn giáo cơ bản ổn định; đa số chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đồng hành cùng dân tộc. Nhìn nhận thẳng thắn vào các hạn chế, chỉ rõ việc quản lý một số hoạt động văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng còn bất cập, có dấu hiệu bị buông lỏng.
Bảo đảm an ninh tôn giáo Nhấn mạnh việc xử lý hài hòa các vấn đề tôn giáo, không để xảy ra các "điểm nóng". Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết. Chính thức chú trọng khái niệm "an ninh tôn giáo", yêu cầu bảo đảm ngày càng vững chắc an ninh tôn giáo tại các địa bàn chiến lược, trọng điểm, không để xảy ra "điểm nóng". Chủ động xử lý hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự gây bức xúc.
Phương thức lãnh đạo, vận động và lực lượng nòng cốt Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống "tốt đời đẹp đạo". Đặt yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, vận động, tập hợp; đặc biệt nhấn mạnh giải pháp tăng cường xây dựng lực lượng nòng cốt là người có uy tín trong tôn giáo. Yêu cầu có cơ chế đặc thù, hiệu quả để theo dõi, tổng hợp tình hình tôn giáo.
Công tác xây dựng Đảng và phát triển đảng viên Không nêu đậm nét thành tựu hay hạn chế chuyên biệt về vùng tôn giáo, chủ yếu đề cập trong định hướng chung về phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc,. Ghi nhận thành tựu mang tính bước ngoặt là cơ bản xoá được tình trạng "trắng" đảng viên ở thôn, bản vùng tôn giáo và tỉ lệ đảng viên là người theo tôn giáo ngày càng tăng. Đồng thời, thẳng thắn chỉ ra bất cập trong xây dựng tổ chức đảng, quản lý đảng viên vùng tôn giáo và tiếp tục định hướng quan tâm phát triển đảng viên khu vực này.

Nguyễn Đức Toàn - Phó Trưởng Phòng Tổng hợp, Ban Tôn giáo Chính phủ