Data.jpg
Theo nghiên cứu mới đây của IBM, chỉ 21% doanh nghiệp đang vận hành các TTDL với hiệu suất cao.

Nhiều doanh nghiệp đang "bỏ phí" sức mạnh của TTDL

Theo đánh giá của IBM, trong thời gian qua, các nhà lãnh đạo CNTT (CIO, trưởng phòng CNTT) đã ứng dụng nhiều phương pháp để có thể nâng cao hiệu suất của các TTDL (từ khâu thiết kế cho tới khâu vận hành và các quy trình trong TTDL).

Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu năm 2012 do IBM cùng IDC thực hiện với 300 nhà lãnh đạo CNTT toàn cầu thì chỉ có 21% các doanh nghiệp được khảo sát đang vận hành các TTDL của họ với hiệu suất cao, 62% vận hành với hiệu suất trung bình và 17% có hiệu suất thấp.

Các nhà lãnh đạo CNTT nhận được điểm “A” trên phiếu đánh giá TTDL chính là những doanh nghiệp đang gặt hái được nhiều lợi ích từ hiệu suất tối ưu. Họ là những công ty có thể dành ít nhất 50% ngân sách CNTT cho các dự án mới và các hoạt động đổi mới, sáng tạo mới để nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường. Trong khi đó, các doanh nghiệp có hiệu suất thấp chỉ dành được 39% cho các dự án mới.

Tại khu vực ASEAN, các TTDL có hiệu suất cao nhất có số lượng máy chủ chỉ cần do một người quản lý nhiều gấp ba lần so với các TTDL có hiệu suất thấp nhất.

Các trung tâm này cũng có tỷ lệ ảo hóa xấp xỉ 40%, trong khi các TTDL hiệu suất thấp mới chỉ ảo hóa được trung bình 9%. 59% các TTDL hiệu suất thấp không sử dụng các công cụ tối ưu hóa lưu trữ. Giới chuyên môn đánh giá đó là một thực tế đáng báo động.

Bởi lẽ, theo dự báo thì trong tương lai rất gần, 90% các tổ chức và doanh nghiệp sẽ phải đối phó với “dữ liệu khổng lồ”, với những dữ liệu phi cấu trúc từ các trang mạng xã hội, weblog, dữ liệu không gian…

IBM "hiến kế"

Liên quan đến vấn đề nói trên, để “hiến kế” cho các doanh nghiệp, tổ chức nâng cao hiệu suất TTDL, ông Hàn Quốc Ân - Giám đốc Bộ phận Dịch vụ Công nghệ Toàn cầu của IBM Việt Nam nhấn mạnh: Để có thể nằm trong số 21% các doanh nghiệp đang tận dụng tối ưu hiệu suất của TTDL, các lãnh đạo CNTT cần cân nhắc bốn điều kiện.

New-Image.jpg
Ông Hàn Quốc Ân.

Thứ nhất, cần tối ưu hoá các thiết bị máy chủ, lưu trữ, mạng và các trang thiết bị khác để tối đa hoá dung lượng và tính sẵn sàng.

Thứ hai, thiết kế TTDL phải đảm bảo được tính linh hoạt và tính bền vững để có thể phản ứng và hỗ trợ kịp thời với các nhu cầu kinh doanh mới.

Thứ ba là sử dụng các công cụ tự động hoá để nâng cao chất lượng và tính sẵn sàng. Trên thực tế, hệ thống nào có ít sự can thiệp từ con người hơn sẽ sẽ đáp ứng yêu cầu của các tải công việc nhanh chóng hơn.

Và cuối cùng, cần xây dựng được một chiến lược tổng thể không chỉ có CNTT, mà còn bao gồm kế hoạch quản lý mặt bằng, kế hoạch tiêu thụ điện… sao cho đáp ứng các mục tiêu kinh doanh và phải luôn được cập nhật.

Đưa ra ví dụ cụ thể, đại diện dẫn ra ví dụ với trường hợp Liên đoàn bóng bầu dục Mỹ (NFL - National Football League) với ba TTDL trên một mặt bằng diện tích 185 m2 với mức độ ảo hóa 5%. Để chủ động xử lý khối lượng dữ liệu đang bùng nổ, NFL đã xây dựng một chiến lược phát triển CNTT trong vòng 10 năm với mục tiêu xử lý nhiều gấp 50 lần khối lượng dữ liệu và giảm 50% nguồn lực sử dụng để tự động hóa việc cấp phát tài nguyên.

Điều đó đòi hỏi sức mạnh điện toán của hệ thống máy chủ phải tăng gấp 20 lần chỉ riêng trong giai đoạn 2010-2014. Với sự hỗ trợ của IBM, chỉ trong vòng 18 tháng, NFL đã đạt được mức độ ảo hóa tới 95%. Đây là một kết quả phi thường vì các doanh nghiệp thường phải mất vài năm mới tăng được 20-30% mức độ ảo hóa.

Cùng đó, ngay bản thân IBM cũng là một ví dụ điển hình. Từ năm 2006 đến 2011, IBM đã hoàn thành việc tập trung hóa máy chủ và nâng cao hiệu suất của tất cả các TTDL, đồng thời tiết kiệm được 1,25 tỷ USD. Cơ sở hạ tầng của tập đoàn đã được đơn giản hóa bằng cách ảo hóa 65% số lượng máy chủ và tiến hành tự động phân lớp hệ thống lưu trữ để quản lý khối lượng dữ liệu có tốc độ tăng trưởng 25% với chi phí không đổi.