Bảo vệ bản quyền phần mềm:
“Cần cây gậy và củ cà rốt đi kèm”
![]() |
Ảnh: Lê Hạnh |
BĐVN: Xin ông đánh giá về tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm hiện nay ở nước ta?
TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Tài sản có tài sản vô hình và tài sản hữu hình. Trong một hoàn cảnh đói khát, bao giờ tài sản hữu hình cũng có giá trị hơn. Khi cuộc sống no đủ, tài sản vô hình có giá trị hơn. Song tài sản hữu hình dễ bảo vệ hơn, ví dụ bảo vệ một củ khoai dễ hơn bảo vệ một bài hát. Anh có thể cất củ khoai trong nhà, khoá cửa lại, hoặc bỏ trong túi không ai lấy được. Nhưng bài hát anh hát nghe hay, hàng xóm cũng hát, anh có cấm được không? Bảo vệ quyền tác giả, tức tài sản vô hình, là rất khó. Từng người chủ sở hữu thường không bảo vệ được mà Nhà nước và pháp luật mới bảo vệ được.
Trở lại với bản quyền phần mềm (PM). Nói vi phạm bản quyền PM không khó là hoàn toàn không khách quan. Vi phạm các bài hát, quyền tác giả đanh nhiều, mình cũng phải thừa nhận vi phạm bản quyền phần mềm cũng trong một tình trạng tương đối như vậy.
Rõ ràng, có một loạt vấn đề đặt ra có thể tin rằng vi phạm bản quyền PM nhiều là việc sao chép hết sức dễ. Nó như bài hát, tôi nghe nhịp là tôi hát theo được. Thứ hai, ý thức của người dân chưa cao. Nói chung, thò tay móc túi của người ta một đồng bạc thì đỏ mặt, nhưng ăn cắp một PM thấy lương tâm chẳng cắn rứt gì cả. Đó là vì PM là sản phẩm siêu hình, các chế tài về đạo đức gần như không phát huy tác dụng. Thành ra nó có vấn đề về nhận thức, điều chỉnh hành vi nó không phát huy tác dụng.
Nằm ở trong nguyên nhân này có một cái tệ hơn nữa mà thực chất nhiều người đã chia sẻ là không vi phạm thì lấy gì mà dùng. Rõ ràng mình phải tiếp cận với thế giới hiện đại, nhưng mình nghèo. Bây giờ có trường hợp Giăng Van Giăng (nhân vật chính trong tiểu thuyết Những người khốn khổ của V. Hugo-PV) đập cửa kính để lấy bánh mỳ. Trường hợp ấy rõ ràng vi phạm pháp luật nhưng nhận xét của người ta rất khác. Đối với nhiều người cũng chẳng khác Giăng Van Giăng trong trường hợp đó. Tức nếu mua phần mềm, ngàn đời không có tiền, trong khi anh đói...
Có nguyên nhân khác nữa mà người ta biện minh, đó là ăn cắp tri thức không phải là ăn cắp. Trí tuệ, kiến thức phải là thứ giống như ngọn đèn. Tôi thắp ngọn đền của tôi sáng lên mà không làm ngọn đèn của anh mờ đi. Cũng như phần mềm, tôi lấy phần mềm của anh nhưng tôi không làm phần mềm của anh mất đi mặc dù hiều về tài sản là ăn cắp tài sản. Nếu không bảo vệ được cái đó thì những phần mềm thông tuệ hơn sẽ không bao giờ có.
Các tâm lý đan xen nhau, khả năng áp đặt thực thi rất khó. Quy định của pháp luật dễ thôi và cũng đã rõ cả rồi. Nhưng thực thi rất khó. Bây giờ, chẳng hạn người ta có máy tính để ở nhà nhưng vào nhà kiểm tra rất khó vì có hiến pháp bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.
Rõ ràng có nhiều nguyên nhân mà áp đặt thực thi rất khó. Muốn giảm tình trạng vi phạm chính sách áp đặt thực thi đòi hỏi có nhiều biện pháp đồng bộ, giáo dục ý thức, các hãng phần mềm phải đưa ra lợi ích lớn hơn nếu mua bản quyền... Phải có một củ cà rốt đi theo, chứ có gậy không là rất khó.
Vừa rồi, có một số doanh nghiệp bị kiểm tra về vi phạm bản quyền phần mềm. Đó liệu có phải là biện pháp răn đe tốt không, thưa ông?
Đó là một cách tốt vì rõ ràng răn đe là một công cụ quan trọng để điều chỉnh hành vi. Thực chất răn đe có được là hình phạt đi kèm. Luật pháp đã quy định chế tài rồi, nếu áp dụng nhất quán và hiệu năng nó cũng là một cái thúc đẩy tránh hành vi ăn cắp.
Nhưng nếu người bị kiểm tra cho rằng như thế là không công bằng vì vi phạm diễn ra phổ biến mà không thể kiểm tra được. Tức là chỉ có ai bị kiểm tra mới bị phạt, còn người vi phạm nhưng không bị kiểm tra vẫn nhởn nhơ?
Lập luận ấy là không được. Bắt được anh vi phạm tức là có tội. Những người khác vi phạm nhưng chưa bắt không thể biện minh cho hành vi vi phạm của anh.
Tuy nhiên, qua đó cũng thấy họ gửi một thông điệp, tức là đã kiểm tra phải kiểm tra thường xuyên, chứ không phải làm xong một vài vụ rồi thôi. Như vậy mới đảm bảo công bằng và phát huy tính răn đe của pháp luật.
Theo ông, tình hình vi phạm ở Việt Nam có phải đáng báo động không?
Một nước như Việt Nam, tôi cho đó là bình thường. Nó sẽ là báo động khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các đối tác bắt đầu tìm cách kiện.
Còn trước thời điểm này, đó là chuyện khó tránh dù việc ấy không nên vì cân đối lại, không chỉ họ có phần mềm mà mình cũng có. Những người có tài sản vô hình được bảo vệ mới có nền tảng phát triển, nền kinh tế tri thức mới phát triển được.
Có nghĩa là mình phải chấp nhận một tỷ lệ vi phạm nhất định?
Không phải chấp nhận. Mình không công nhận một cách hợp pháp mà đó là một thực tế khó tránh khỏi.
Thử tưởng tượng việc thực thi bản quyền phần mềm nghiêm túc ngay từ đầu, theo ông trình độ tin học, phổ biến tin học sẽ như thế nào so với hiện nay?
Khó mà trả lời được. Nhưng nếu mà như vậy, chắc chắn những em học sinh nghèo, nông thôn chưa tiếp cận được với máy tính. Giờ ở Việt Nam tiếp cận được với máy tính rất nhanh. Giỏi lên nhờ ăn cắp cũng chẳng vinh quang gì nhưng rõ ràng có ý đó. Ăn cắp không phải để làm giàu, mà cũng phải thấy cái đó giúp nhiều người tiếp cận được với tin học.
Vậy vấn đề cốt lõi của bản quyền phần mềm vẫn là chi phí quá cao?
Chi phí có thể lớn. Một phần mềm không phải do một người làm ra. Một dự án có hàng chục, hàng trăm người tham gia. Nên doanh nghiệp có thể dẫn đến phá sản do vi phạm bản quyền. Song thực tế cho thấy, nếu không bảo vệ được như vậy làm gì có doanh nghiệp phần mềm Việt Nam phát triển được.
Đây là một bài toán khó, cân đối giữa việc bảo vệ tài sản với nhu cầu của công bằng xã hội, của chia sẻ tri thức. Trong bất cứ trường hợp nào, nên để cho những người nào đó có cơ hội trở thành Bill Gates, sau đó chia nửa gia tài làm từ thiện. Đường đi như vậy có lẽ hợp lý hơn.
Tại Quốc hội, Đại biểu Nguyễn Đình Lộc có nói, muốn người ta không vi phạm tốt nhất là để cho người ta thấy không vi phạm là có lợi hơn vi phạm. Với bản quyền phần mềm có làm được như vậy không?
Nói vậy là đúng về nguyên tắc. Nhưng áp dụng nguyên tắc vào cuộc sống không đơn giản. Muốn không vi phạm thực tế lợi hơn vi phạm thì phải áp đặt chế tài ngay. Còn cuộc sống cho thấy vi phạm có lợi hơn không vi phạm. Vì rằng hàng triệu người vi phạm biết máy tính và người không vi phạm không biết máy tính.
Một trong những yếu tố điều chỉnh hành vi con người là lợi ích. Nếu đánh vào lợi ích, anh vi phạm là anh thiệt ngay nhưng áp đặt được không dễ. Vì nhà nước không thể để hàng triệu cảnh sát đứng trong triệu nhà dân có máy tính để kiểm soát. Rõ ràng, chuyển việc bảo vệ tài sản về cho chủ tài sản hơn là nhà nước. Người chủ tài sản có tố quyền và phải có một hệ thống thực thi công lý rất hiệu năng.
Nếu yêu cầu giảm vi phạm bản quyền phần mềm xuống còn mức trung bình thế giới từ 40%-50%, theo ông phải làm những gì?
Phải cố gắng “phá” các nguyên nhân như tôi đã nói lúc đầu. Về ý thức, bao giờ ăn cắp phần mềm phải đỏ tai như ăn cắp con gà, xe đạp. Nhận thức là rất quan trọng.
Thứ hai, phải có hệ thống các cơ quan áp đặt việc thực thi. Các cơ quan vào WTO phải được đào tạo, đào tạo lại để trở nên hiệu năng. Phải có hệ thống xét xử, giải quyết tranh chấp hiệu năng trên cơ sở giành tố quyền cho người có quyền tài sản bị vi phạm để người ta kiện.
Tất nhiên, vào WTO mình có thể nhờ các nhà tài trợ, các nước có kinh nghiệm, khả năng, năng lực trong lĩnh vực này giúp đỡ.
Xin cảm ơn ông!
Lê Hạnh
thực hiện
