Câu chuyện ĐTDĐ ở Việt Nam

Hiện nay Việt Nam có gần một phần ba dân số sử dụng điện thoại di động (ĐTDĐ). Thị trường ĐTDĐ đương thời hưng thịnh, đặc biệt là ở vùng nông thôn. Giá rẻ, chất lượng dịch vụ được cải thiện nhiều, người dân thôn quê có cơ hội tiếp cận công nghệ mới.

Cách đây 10 năm, máy điện thoại vừa cục mịch mà không có model nào dưới hai triệu đồng. Khi này chưa có dịch vụ trả trước và riêng cước thuê bao trả sau đã 250.000đ/tháng. Đối tượng dùng sản phẩm này thường là các doanh nhân thành đạt, nhân vật quan trọng và các gia đình có thu nhập cao. Nhưng nay, con “dế” đã len lỏi vào cuộc sống, có ý nghĩa rõ ràng với cả những người dân thôn quê.

Cô thư ký… ảo

Tuấn Anh, một “manager” của công ty viễn thông FPT ví ĐTDĐ như cô thư ký thạo việc anh có thể suốt ngày kè kè bên cạnh mà chẳng sợ tai tiếng. Anh đang xài chiếc smartphone P990i của Sony Ericsson. Lên lịch, nhắc việc và ghi chép kiểu sổ tay chỉ là chuyện nhỏ! Mỗi khi đi công tác, P990i là máy ảnh 2 “chấm”, máy quay kiêm máy scan và fax. Điểm anh ưng nhất về nó là sự linh hoạt nối mạng Internet giữa Wi-Fi và GPRS bên cạnh việc luân phiên dùng bút stylus và bàn phím Qwerty.

Dế là cách để các “đại gia” theo dõi tin tức mọi lúc mọi nơi. Đặc biệt, ở thời đại nhà nhà lên sàn người người cổ phiếu, việc cập nhật tình hình “lên xuống” của các “blue-chip”  từng giây, thậm chí là khớp lệnh bằng tin nhắn thì quả là không có di động không xong! Anh Phương, giám đốc một công ty Công trình thủy không rời “con” N72 nửa bước và có hẳn một group lưu các số máy dịch vụ trong đó có dịch vụ tin nhắn chứng khoán.

Là một trong những người tiên phong xài O2 Mini, anh Nguyễn Quang Tiến, phó giám đốc một công ty thiết bị dạy học tại Hà Nội chia sẻ: bởi tâm lý sợ bị coi là khoe của, anh dùng “em” O2 thon thả nhất thời điểm năm 2004 này. Nhờ thế mỗi khi nhận điện anh cũng không bị trêu là cầm cái... dép bên tai! Cộng thêm cái văn hóa chọt chọt xem ra cũng rất... prồ. Tuy nhiên, vì máy không có Wi-Fi anh đành phải ngậm ngùi chia tay dù trong lòng tràn đầy tiếc nuối.

Thay đổi quan niệm cũ

Nếu ĐTDĐ nội thị “xưa như diễm” thì người dân thôn quê cũng ghi nhận đây là thiết bị cần phải có. Ông Huy (55 tuổi), một chủ trang trại cây ăn trái ở xã Đại Lâm, Lạng Giang, Bắc Giang, năm trước được anh con trai là kỹ sư xây dựng biếu một chiếc ĐTDĐ. Ông ước chi mình sắm máy sớm hơn vì từ ngày có nó nhà ông có nhiều khách hàng đặt mua hơn đồng thời thêm phương tiện liên lạc với người con xa nhà.

Anh Khiêm ở xã Ngũ Đoan, Kiến Thụy, Hải Phòng, chuyên nghề chở khách (xe ôm) cho người dân trong xã, cho biết hồi mới vào nghề vì chưa có cả ĐTDĐ lẫn cố định nên vắng khách, một phần vì bà con chòm xóm phải đi bộ đển tìm anh. Tuy nhiên, từ khi sắm di động anh làm không hết việc. Anh tâm sự “phải tác động tư tưởng mãi bà xã kiêm thủ quỹ gia đình mới cho mua vì ngày trước điện thoại còn đắt. Nay giá máy hạ cộng với những dịch vụ nghe mãi mãi như “Forever” của S-Fone hay “Tomato” của Viettel nên anh đã có cớ để thuyết phục được vợ”.

Hai ứng dụng chính của “dế” được người dùng khai thác nhiều nhất là đàm thoại và nhắn tin. Những dịch vụ gia tăng khác như lướt net, chat, tin nhắn đa phương tiện, tải nhạc, video … chỉ là thứ yếu, thậm chí là khái niệm quá phức tạp với họ. Đặc biệt, hầu hết các dịch vụ gia tăng đó chỉ khiến hóa đơn điện thoại nặng thêm và mang mục đích giải trí nhiều hơn nên đa số người dùng hạn chế sử dụng.

Trung bình hiện nay người Việt Nam dành 150.000đ/tháng cho việc liên lạc di động. Đặc biệt, nếu chỉ xét hai ứng dụng điện thoại và nhắn tin, GSM không hề thua CMDA. Do đó, các mạng GSM ở VN vẫn áp đảo với tỷ trọng hơn 90% trên tổng số thuê bao di động hiện có trên toàn quốc.

Bước tiến nhỏ của gia đình ông Huy, anh Khiêm đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng thuê bao phi mã. Từ chưa đầy 2 triệu thuê bao vào năm 2002, tại thời điểm này các mạng di động đã thu hút được tổng cộng trên 25 triệu khách hàng. Tốc độ tăng trưởng năm sau luôn gấp đôi năm trước.

Thành tích này một phần bởi sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà cung cấp, giữa các công nghệ mạng với nhau cũng như đa dạng máy điện thoại bình dân. Đơn cử, tính đến hết tháng 9 năm nay, riêng Vinaphone đã có 7,5 triệu thuê bao đang hoạt động. Có ngày mạng này thu hút được 50.000 thuê bao mới, theo một đại diện của Vinaphone.

Giá điện thoại hấp dẫn

Hầu hết các hãng điện thoại đều tăng cường các lựa chọn cho người thu nhập thấp. Theo thống kê của GFK, Nokia giữ 57% thị phần tại thị trường Việt Nam, trong đó chiếc 1100i (giá dao động 590.000 - 650.000đ) chiếm 10% trên tổng số điện thoại các loại. Như vậy cứ 10 mẫu điện thoại được tiêu thụ thì có một chiếc Nokia 1100i. Những lựa chọn dưới 1 triệu đồng từ các thương hiệu khác như Motorola, Sony Ericsson, Samsung và LG hiện có khá nhiều.

Mặt khác, nhờ các gói cước không giới hạn ngày nghe, lượng thuê bao eo hẹp ngân sách cũng tăng lên đáng kể. Những cơn mưa khuyến mãi tặng SIM, thêm tiền khi nạp thẻ, những đợt trợ giá máy từ các nhà cung cấp dịch vụ cũng là những “nam châm” hút khách.

Tuy nhiên, giá cước ĐTDĐ của nước ta hiện còn cao so với thế giới (xấp xỉ 1.400 đồng/phút với thuê bao trả sau và 2.200đ với thuê bao trả trước ở các mạng của VNPT). Trong khi đó, cước viễn thông ở Ấn Độ chỉ 320đ/phút, Braxin là 1.800đ/phút, Nhật Bản là 5.500đ và Australia là 3.900đ. Như vậy, cước di động của Nhật cao gấp ba lần ở ta nhưng thu nhập tối thiểu của một kỹ sư xứ hoa anh đào (3.000 USD/tháng) gấp mười lần một kỹ sư Việt Nam. Mới đây Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT hứa hẹn hạ 15-20% cước đàm thoại của hai mạng Vinaphone và MobiFone vào cuối năm nhưng chưa rõ ngày nào có hiệu lực.

Cùng với sự tham gia của mạng di động thứ 6, Hanoi Telecom, thị trường viễn thông Việt Nam hiện quân bình tỷ số (3-3) về số lượng nhà cung cấp ở hai công nghệ GSM và CDMA. Mặc dù CDMA được đánh giá cao hơn về khả năng truyền tải dữ liệu nhưng các mạng này sinh sau đẻ muộn và kén khách bởi những lợi thế của nó chưa được thể hiện.

Thêm nhiều trạm phát sóng

Ở những vùng xa xôi hẻo lánh, người dân chỉ quan tâm đến số vạch sóng và chất lượng cuộc gọi ổn định. Ghi nhận một hai năm gần đây, người dân có thể ra tận cửa khẩu thậm chí đứng trên địa phận Trung Quốc vẫn thấy sóng của mạng Việt Nam. Đi qua các đường hầm, hẻm núi cũng không lo sợ chiếc điện thoại biến thành “cục gạch”!

Mạng nào cũng khẳng định đã phủ sóng rộng khắp nhưng nhìn chung mật độ không đều và chất lượng cuộc gọi chưa ổn định. Các trạm thu phát sóng (BTS) thường dày đặc ở thành thị và những điểm đông dân nhưng lại thưa thớt ở các vùng nông thôn, miền núi. Đôi khi ngay cả các địa phương giáp ranh với các thành phố lớn vẫn có những lời phàn nàn về hiện tượng ít sóng. Anh Tân một nông dân ở thị trấn Núi Đèo, huyện Thủy Nguyên cho biết, nhà anh cách thành phố cảng 8 km nhưng về đến quê là sóng chỉ còn 1-2 vạch và gọi điện chập chờn lúc được lúc không.

Để giải quyết triệt để tình trạng này, các nhà cung cấp dịch vụ đã và đang tiến hành mở rộng khá nhiều trạm BTS. Mục tiêu của cả 6 nhà cung cấp trong năm nay là phải xây dựng được 15.000 trạm thu phát mới trong đó phe GSM chiếm tới hai phần ba. Trong đó, Mobifone dự kiến thêm 4.500 BTS mới trong khi phải mất 13 năm hãng mới lắp được 2.500 BTS đầu tiên. VinaPhone phấn đấu đến hết năm nay sẽ có 5.000 BTS so với 3.000 trạm đạt được tính đến ngày 30-9 vừa qua. Các mạng di động đang di chuyển tầm ngắm từ các thị trường nội thị sắp bão hòa về ngoại ô, huyện lỵ vùng sâu vùng xa.

Theo TTO