![]() |
Ảnh: Minh Tiến Ông Lâm Quang Nam, Phó Giám đốc VITEC |
Số lượng thí sinh tham gia sát hạch theo chuẩn kỹ năng kỹ sư CNTT tương đương với Nhật Bản không như mong đợi, tỷ lệ đỗ sát hạch giảm dần.
Ông Lâm Quang Nam, Phó giám đốc Trung tâm Sát hạch Công nghệ thông tin (CNTT) và Hỗ trợ đào tạo (VITEC) trả lời phỏng vấn báo Bưu điện Việt Nam.
Thưa ông, 5 năm tổ chức với gần 4.500 thí sinh, đây có phải là con số đáp ứng được mục tiêu của VITEC?
Chưa đạt yêu cầu, bởi theo kế hoạch của VITEC, đến hết năm 2006 phải có 5.000 người tham gia sát hạch. Nhưng mục tiêu của chúng tôi đặt ra khi đó chỉ mang tính mong muốn, không hề có khảo sát hay căn cứ gì. Lúc đó chúng tôi lấy mục tiêu 50.000 nhân lực trong ngành phần mềm đến năm 2005 của Chính phủ làm tiêu chí. Như vậy, nếu so với thành quả đạt được của ngành phần mềm, kết quả này của VITEC đến nay có thể coi là tương đối thành công. Tuy nhiên, so với nhu cầu của thị trường, số lượng người tham gia có thể tăng nhiều hơn nữa.
Sau 5 năm triển khai tại Việt Nam, theo ông những nội dung của hệ thống sát hạch này có đủ để đánh giá khách quan trình độ nhân lực CNTT Việt Nam?
Trước tiên, tôi xin nói là Nhật và Hàn Quốc đã dùng các chuẩn kỹ năng này làm thước đo nhân lực CNTT của họ nhiều năm nay. Qua 5 năm triển khai ở Việt Nam, tôi nhận thấy hệ thống sát hạch này có thể phân loại và đánh giá khách quan phẩm chất nhân lực CNTT Việt Nam.
Cụ thể, những người thi đỗ các chứng chỉ này ngày càng có giá, được các công ty đón nhận. Số lượng công ty đánh giá cao chuẩn kỹ năng này ngày càng nhiều, không chỉ bó hẹp ở các doanh nghiệp gia công cho thị trường Nhật.
"Điều đáng ngại là gần đây tỷ lệ đỗ sát hạch ở Việt Nam đang giảm dần" Ông Lâm Quang Nam |
Tỷ lệ đỗ sát hạch nội dung kiến thức CNTT cơ bản trung bình trong 5 năm qua đạt khoảng 15%, kết quả không phải là tồi so với các quốc gia trong khu vực có áp dụng chuẩn này. Nhưng điều đáng ngại là gần đây tỷ lệ đỗ sát hạch ở Việt Nam đang giảm dần. Đợt thi gần đây nhất vào tháng 10/2006, tỷ lệ đỗ là 10%, kỳ thi trước đó vào 6/2006 là 12%.
Xu hướng này cũng đang xảy ra với các nội dung sát hạch chuyên sâu như thiết kế và phát triển phần mềm, hệ thống mạng và cơ sở dữ liệu. Ví dụ, tỷ lệ đỗ sát hạch kỹ sư thiết kế và phát triển phần mềm của các năm 2003 là 16%, năm 2004 là 15%, 4,5% vào năm 2005 và đến năm 2006 thì không có thí sinh nào đỗ nội dung sát hạch này.
Theo ông, vì sao tỷ lệ người đạt chuẩn ngày càng giảm?
Tỷ lệ đạt chuẩn ngày càng giảm có hai nguyên nhân. Một là tuổi trung bình thí sinh dự thi ngày càng giảm, sinh viên bắt đầu đông dần lên. Hiện nay, khoảng 50% thí sinh dự thi nội dung kiến thức CNTT cơ bản là sinh viên.
Lý do thứ hai là đề thi ngày càng khó hơn. Yêu cầu kỹ năng và kiến thức CNTT của Nhật cao dần lên. Điều này cho thấy nhu cầu nhân lực CNTT của Nhật ngày càng khắt khe hơn. Trong khi đó, tôi cảm thấy chúng ta chưa có cách nào nâng cao trình độ nhân lực. Cứ đà này, tỷ lệ đỗ trong các kỳ thi tới có thể còn giảm nữa.
Hệ thống sát hạch CNTT tương đương với chuẩn Nhật Bản được VITEC triển khai chính thức tại Việt Nam từ năm 2002. Tính đến nay, VITEC đã tổ chức được 10 kỳ sát hạch theo các chuẩn kỹ năng tương đương với Nhật Bản với 4.496 thí sinh. Hiện tại, VITEC đã áp dụng 4 nội dung thi là CNTT cơ bản, thiết kế và phát triển phần mềm, hệ thống mạng và cơ sở dữ liệu. Đề thi do phía Nhật Bản giám định và biên soạn, trong đó Việt Nam góp 10% câu hỏi. Từ năm 2006, các kỳ sát hạch này được tổ chức thống nhất vào cùng một ngày, với cùng một đề thi, tại 6 nước: Việt Nam, Malaysia, Mông Cổ, Myanmar, Philippines, Thái Lan. Từ tháng 10/2007, các kỳ sát hạch này dự kiến sẽ được tổ chức trùng với kỳ sát hạch tại Nhật Bản.
Nguyên nhân sâu xa của vấn đề chắc không chỉ dừng lại ở hai lý do trên?
Tỷ lệ đỗ và cả số lượng người tham gia sát hạch của Việt Nam đã phản ánh đúng năng lực của thị trường. Chất lượng nhân lực thể hiện sự manh mún, tự phát trong đào tạo, thiếu chính sách toàn vẹn và một tầm nhìn xa cho phát triển nguồn nhân lực.
Còn nguyên nhân sâu xa đơn giản là do chất lượng đào tạo. Đào tạo CNTT ở Việt Nam chủ yếu là đào tạo “chay”. Trước đây, học sinh học lập trình phải lấy giấy bút ra lập trình, giờ không thế nữa nhưng vẫn là đào tạo “chay”. Bởi những thứ sinh viên được học họ không rõ trong thực tế thế nào vì Việt Nam rất hiếm các công ty làm phần mềm hoàn thiện, có quy trình bài bản.
Các thầy cũng thiếu thực tế, đa số chưa tham gia vào các quy trình làm phần mềm thực sự. Ví dụ, cách đây 2 năm tôi có hướng dẫn tốt nghiệp cho hai sinh viên. Họ dùng UML để mô hình hoá thiết kế. Sau khi mang đồ án đến, người thầy của họ không hiểu được ngôn ngữ này.
Không chỉ trình độ cơ bản yếu, tỷ lệ đỗ các nội dung sát hạch chuyên sâu như hệ thống mạng, thiết kế và phát triển phần mềm còn tệ hại hơn. Nguyên nhân là vì các thí sinh thiếu kinh nghiệm thực tế, thiếu các hệ thống lớn để tự học. Những người thi đỗ các nội dung sát hạch chuyên sâu đa phần là những cá nhân giỏi, họ học bằng nỗ lực cá nhân chứ không có môi trường thực tế để phát triển.
Từ năm 2006, VITEC đã tổ chức thi sát hạch chung đề và ngày thi với các quốc gia khu vực. Kết quả của Việt Nam so với các quốc gia này như thế nào?
Hiện nay, Việt Nam tạm thời đang dẫn đầu trong số 6 nước kể trên về tổng số thí sinh tham dự sát hạch cũng như số thí sinh thi đỗ. Nhưng mức chênh lệch đó là không đáng kể. Trong các đợt sát hạch gần đây, số lượng thí sinh của các nước trong khu vực đang tăng nhanh. Tính riêng năm 2006, Việt Nam tụt xuống hạng thứ 3 trong số 7 quốc gia tham gia sát hạch chuẩn kỹ năng này. Gần đây, Philippines duy trì được số thí sinh sát hạch nhiều hơn Việt Nam, bởi họ có mặt ở nhiều nơi. Thái Lan vượt hẳn lên vì được nhà nước bao cấp. Có thể nói, Thái Lan và Philippines đang là những thách thức thực sự với ngành phần mềm Việt Nam, nhất là với việc khai thác thị trường Nhật.
Xin cảm ơn ông!
Đỗ Duy
thực hiện
