Chồng tử vong, công ty bảo hiểm từ chối chi trả

Ngày 8/3/2021, bà Hồ Thị T. và chồng là ông Nguyễn Ngọc M. có đơn yêu cầu bảo hiểm. Ngày 19/3/2021, Công ty CP bảo hiểm nhân thọ P. phát hành hợp đồng bảo hiểm, trong đó bà T. là người mua và người thụ hưởng, ông M. là người được bảo hiểm.

Theo hợp đồng, quyền lợi cơ bản là 1,1 tỷ đồng; quyền lợi tăng cường/sản phẩm bổ trợ gồm 1 tỷ đồng đối với trường hợp tử vong hoặc thương tật do tai nạn và 500 triệu đồng đối với bệnh hiểm nghèo. Thời hạn bảo hiểm 47 năm, từ ngày 8/3/2021 đến 8/3/2068, định kỳ đóng phí hàng năm.

Ngày 23/5/2023, ông M. bị tai nạn giao thông phải điều trị tại bệnh viện. Hồ sơ bệnh án thể hiện ông bị đa chấn thương do tai nạn giao thông, chấn thương sọ não nặng, tụ máu dưới màng cứng hai bán cầu và xuất huyết dưới nhện. Đến ngày 27/5/2023, ông M. tử vong.

Sau đó, bà T. yêu cầu Công ty P. giải quyết quyền lợi. Tuy nhiên, ngày 27/9/2023, phía bảo hiểm thông báo từ chối thanh toán quyền lợi tử vong và tử vong do tai nạn.

W-bao hiem nhan tho.jpg
Chồng qua đời sau mua bảo hiểm 2 năm, nhờ tòa, vợ nhận hơn 2 tỷ sau khi bị từ chối chi trả. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Lý do công ty đưa ra là bên mua bảo hiểm đã kê khai không đầy đủ, chính xác và trung thực các thông tin về sức khỏe và những thông tin khác khi tham gia bảo hiểm.

Theo Công ty P, trước khi ký hợp đồng, bà T. và ông M. đã trả lời “Không” đối với các câu hỏi liên quan đến tình trạng sức khỏe trong đơn yêu cầu bảo hiểm. Trong quá trình xác minh sau khi ông M. tử vong, công ty cho rằng ông từng nhiều lần khám và được chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến, cao huyết áp, cơn đau thắt ngực, tiểu đường, viêm gan B và hen suyễn tại một số cơ sở y tế trong giai đoạn 2016-2019.

Công ty bảo hiểm cho rằng việc không kê khai đầy đủ các thông tin trên đã ảnh hưởng đến quá trình thẩm định và quyết định phát hành hợp đồng.

Do đó, Công ty P. chấm dứt hiệu lực toàn bộ hợp đồng từ ngày 27/5/2022, chi trả cho bà T. giá trị hoàn lại hơn 37,7 triệu đồng và từ chối thanh toán quyền lợi tử vong và tử vong do tai nạn.

Không đồng ý, bà T. yêu cầu công ty bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà xác nhận đã nhận hơn 37,7 triệu đồng giá trị hoàn lại và đồng ý khấu trừ khoản tiền này vào số tiền bảo hiểm yêu cầu.

Sau khi khấu trừ, bà T. yêu cầu công ty thanh toán 2,062 tỷ đồng tiền quyền lợi bảo hiểm và tiền lãi do chậm chi trả.

Bản án dân sự sơ thẩm của TAND TP Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) chấp nhận yêu cầu của bà T., buộc Công ty P. trả 2,062 tỷ đồng tiền bảo hiểm và gần 95 triệu đồng tiền lãi, tổng cộng hơn 2,1 tỷ đồng.

Không đồng ý, Công ty P. kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu của bà T.

Tòa bác kháng cáo, buộc công ty bảo hiểm chi trả hơn 2,1 tỷ đồng

Tại phiên tòa phúc thẩm, công ty bảo hiểm tiếp tục cho rằng ông M. và bà T. không trung thực trong việc kê khai bệnh tật trước khi ký hợp đồng. Công ty cũng cho rằng cần làm rõ việc ông M. tử vong do tai nạn giao thông là cố ý hay vô ý.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định hồ sơ bệnh án thể hiện nguyên nhân tử vong của ông M. là “chấn thương sọ não nặng - tụ máu dưới màng cứng 2 bán cầu, xuất huyết dưới nhện” do tai nạn giao thông.

Công ty bảo hiểm đã yêu cầu ông M. kiểm tra sức khỏe trước khi ký hợp đồng và đã thẩm định, chấp thuận kết quả kiểm tra sức khỏe. Điều này cho thấy tại thời điểm ký kết, công ty đã kiểm tra, thẩm định và chấp thuận ông M. tham gia bảo hiểm.

Hội đồng xét xử cũng đối chiếu nguyên nhân tử vong với quy định trong hợp đồng về “Tai nạn”, theo đó tai nạn là sự kiện khách quan, xảy ra do tác động bất ngờ từ bên ngoài và gây thương tật hoặc tử vong; sự kiện phải xảy ra ngoài sự tiên liệu, kiểm soát và ý muốn của người được bảo hiểm, đồng thời là nguyên nhân trực tiếp, duy nhất gây thương tật hoặc tử vong.

Tòa phúc thẩm cho rằng, trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, Công ty P. không xuất trình tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Vì vậy, có căn cứ xác định nguyên nhân tử vong của ông M. là tai nạn giao thông, không phải các bệnh lý mà công ty bảo hiểm viện dẫn.

Đối với lập luận cần xác minh ông M. chết do cố ý hay vô ý, Hội đồng xét xử nhận định các đương sự không có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai của bị đơn. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo này.

Từ đó, tòa xác định ông M. là người được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm đã ký, đã tử vong trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực và đủ điều kiện theo hợp đồng. Bà T. có quyền yêu cầu Công ty P. chi trả quyền lợi bảo hiểm.

Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Công ty P., giữ nguyên bản án sơ thẩm.

(Bài viết dựa trên Bản án số 07/2025 của TAND TP Huế)