Ông Đoàn Minh Tuấn

Nhà biên kịch Đoàn Minh Tuấn:

“CNTT chắp cánh cho trí tưởng tượng"

ICTnews - Nếu như người làm phim chủ động khai thác, sử dụng được CNTT thì sáng tạo nghệ thuật của họ sẽ tăng lên rất nhiều và đem lại những hiệu quả mới mà trước chỉ có thể trong trí tưởng tượng.

Trung tuần tháng 12/2007 tại Hà Nội đã diễn ra Liên hoan phim Sinh viên Việt Nam lần thứ 2 do Đại học Sân khấu Điện ảnh (SKĐA) chủ trì tổ chức với sự tham gia của trên 40 kịch bản và 80 phim do sinh viên các trường đào tạo về điện ảnh cả nước tham dự. Nhà biên kịch Đoàn Minh Tuấn, Chủ nhiệm Khoa Nghệ thuật Điện ảnh Trường ĐH SKĐA Hà Nội, Trưởng ban tổ chức cuộc thi đã trao đổi với Báo BĐVN về kết quả cuộc thi này cùng những mong muốn của những người làm điện ảnh với nền giáo dục và CNTT nước nhà.

Trước hết, xin ông cho biết một vài nhận xét, đánh giá về kết quả của Liên hoan phim Sinh viên lần này?

Phải nói rằng, đây là một liên hoan phim khá thành công và không thể nói rằng các nhà làm phim trẻ của chúng ta còn “non tay”. Hầu hết các bộ phim lọt vào chung khảo đều có những sắc thái mới của ngôn ngữ điện ảnh và đem lại ấn tượng với không chỉ công chúng khán giả mà cả với các bậc tiền bối trong ngành. Nhìn chung, các bộ phim đều được thực hiện một cách công phu và các em đã rất mạnh dạn khai thác nhiều đề tài khó và thực hiện nhiều thủ pháp nghệ thuật tinh tế. Mỗi bộ phim đều phản ánh một cách nhìn về cuộc sống, bộc lộ quan điểm nghệ thuật của các nghệ sĩ trẻ. Phần nhiều các bộ phim tham dự đều do sinh viên tự bỏ tiền thực hiện. Nhiều em đã phải vay mượn tiền, phải bán xe máy, tài sản để có tiền đầu tư. Điều mà tôi mong muốn là tiếp sau những kết quả này, các nhà làm phim trẻ phải tiếp tục học hỏi, tìm tòi để tiếp tục có thêm những thành công mới trong sự nghiệp còn rất dài của họ.

Ngày nay, các trang thiết bị nghe nhìn đều rất phổ biến và giá thành cũng rất hạ khiến rất nhiều nhười có thể mua và tham gia làm phim. Bên cạnh đó, công nghệ phần mềm đã cho phép người ta có thể dựng phim và làm kỹ xảo ngay trên máy tính cá nhân thông thường. Trước thực trạng đó, ông nghĩ gì về tương lai của điện ảnh nghiệp dư tại Việt Nam?

Tôi vẫn thường nói với các học trò của mình rằng tuy các em được học hành một cách bài bản. Tuy nhiên, chính những kiến thức được đào tạo bài bản đó đôi khi cũng là sự cản trở cho sáng tạo, khám phá. Trong khi đó, những người làm phim nghiệp dư tuy không được đào tạo bài bản nhưng bản thân họ lại có tố chất hơn hẳn là tình yêu với nghệ thuật điện ảnh và không bị yếu tố nào cản trở để có thể khám phá thế giới điện ảnh trên con đường mà họ đã lựa chọn theo cách riêng của mình. Đối với người được đào tạo qua trường lớp thì vẫn là học hỏi trước, khám phá sau còn với giới nghiệp dư là khám phá trước rồi sau đó mới học hỏi. Và nhiều khi, chính những khám phá không bị lệ thuộc vào kiến thức bài bản lại đem lại những hiệu quả rất đặc biệt mà khiến chính những người làm điện ảnh chuyên nghiệp cũng phải ghi nhận.

Con đường đến với điện ảnh của mỗi còn người là theo rất nhiều lối khác nhau và trường lớp chính thức cũng chỉ là một trong những sự lựa chọn. Tất cả mọi thành viên trong xã hội theo học các môi trường như âm nhạc, mỹ thuật, môi trường, địa chất, xây dựng, sư phạm… đều có thể đến với điện ảnh nếu có niềm đam mê. Và bất kể những ai muốn dùng máy quay để ghi lại những tư liệu cho chính mình đều có thể trở thành nhà làm phim tài liệu. Thậm chí, những tư liệu mà họ ghi lại được là rất quý giá bởi đó là những hình ảnh độc đáo mà người khác không có ai chứng kiến để ghi lại được. Điện ảnh là nghệ thuật rất cần những tính cách, tố chất nghệ sĩ trong từng con người và chính giới nghiệp dư là những người có tố chất tiềm năng đó cần phải được phát huy, tạo điều kiện phát triển.

Nhân đây, tôi cũng xin nói thêm về những làn sóng mới của điện ảnh thế giới trong những năm gần đây cho thấy rất nhiều đạo diễn đã nổi lên từ nghiệp dư và không ít những tên tuổi của giải thưởng Oscar về phim truyện lại không phải là những người được đào tạo qua trường lớp chính thức. Người làm điện ảnh cần phải có những quan điểm khác nhau và chính những quan điểm khác nhau đó mới tạo ra được những sáng tạo mới cho nghệ thuật. Chính vì vậy mà tôi rất kỳ vọng cho tương lai của điện ảnh nghiệp dư tại Việt Nam và tin rằng trong đó thế nào cũng có những ngôi sao nổi lên để so tài với những người được đào tạo qua trường lớp chính thức về điện ảnh. Luật Điện ảnh mà chúng ta mới có cũng hoàn toàn khuyến khích điện ảnh nghiệp dư. Vấn đề là chúng ta cần phải có những việc làm để cụ thể hoá chính sách bên cạnh sự phát triển, hình thành của một cộng đồng đầy tiềm năng. Hơn cả là cần có sự hợp tác liên ngành giữa điện ảnh với mọi lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội để thúc đẩy nhu cầu điện ảnh trong nội tại mọi lĩnh vực.

Là nền nghệ thuật ra đời trên thành tựu của KHCN và đang chịu sự tác động mạnh mẽ của CNTT, đạo diễn Đặng Nhật Minh cho rằng điện ảnh không còn là nghệ thuật thứ bảy nữa mà phải gọi là nghệ thuật thứ mười. Xin ông cho biết, ngành điện ảnh Việt Nam đã và sẽ làm nghị để tiếp thu, sử dụng những thành tựu khoa học đó cho mình?

Theo những tổng kết chính thức mang tính kinh điển thì điện ảnh là ngành phải tập hợp được đến 72 ngành nghề khác nhau. Để thực hiện một bộ phim, có rất nhiều khâu về kỹ thuật trong đó như ánh sáng, âm thanh, dựng phim, kỹ xảo… Đó là chưa kể đến những vấn đề mang tính chuyên môn của nội dung phim mà các nhà làm phim rất có thể sơ sểnh nếu không tìm hiểu sâu sắc về nó. Đương nhiên, với sự tác động và xâm nhập mạnh mẽ của CNTT thì số lượng nghề để cấu thành cho điện ảnh hiện đại còn tăng lên rất nhiều. Nếu như người làm phim chủ động khai thác, sử dụng được CNTT thì sáng tạo nghệ thuật của họ sẽ tăng lên rất nhiều và đem lại những hiệu quả mới mà trước đó mới chỉ có thể nằm trong trí tưởng tượng. Chính những thành tựu của CNTT đã góp phần chắp cánh cho trí tưởng tượng của những người làm phim. Nhờ vậy mà không gian và thời gian cùng những hình ảnh đẹp nhất, độc đáo nhất đều có thể trở thành hiện thực.

Còn về thực trạng cho vấn đề này ở Việt Nam, chúng ta không hề thiếu những đầu tư về trang thiết bị. Nhưng cái đang thiếu hiện nay chính là con người, là nguồn nhân lực để có thể khai thác, sử dụng nó. Việc đào tạo nhân lực cho CNTT và đào tạo nhân lực cho nghệ thuật điện ảnh hiện chưa có tiếng nói chung. Mặc dù Trường ĐH SKĐA có riêng một khoa về khoa học kỹ thuật nhưng đây cũng là khoa mới thành lập và phương pháp đào tạo vẫn chưa thực sự bài bản, hiện đại. Trong khi đó, nguồn nhân lực về CNTT của các đại học về khoa học tự nhiên lại hầu như không biết gì về nhu cầu của ngành điện ảnh chúng tôi (!).

Chúng ta đang bước sang năm mới 2008 và như vậy là lại một năm nữa đã đến mà CNTT và điện ảnh Việt Nam vẫn chưa có được tiếng nói chung. Vậy ông có mong muốn gì với nền giáo dục nước nhà nói chung và nền CNTT nói riêng?

Là một nhà giáo, trước hết tôi có mong muốn mọi ngành học, không riêng gì CNTT hay điện ảnh cần có sự nghiêm túc để cùng hợp tác, làm việc với nhau vì có rất nhiều công việc mà nội tại một ngành không thể làm được. Từng cá nhân, từng khoa trong một trường đại học phải có sự liên kết với nhau và các trường cũng phải có sự liên kết, hợp tác liên ngành để tạo nên một sức mạnh chung. Nếu như chúng ta không có sự phân biệt, kỳ thị giữa miền này và miền nọ thì chắc rằng sức mạnh Việt Nam tập hợp được sẽ nhân lên rất nhiều. Người Việt Nam chúng ta đang có những mặt tồn tại lớn là ai cũng muốn giao thiệp rộng, có thêm nhiều bè bạn nhưng lại có “cái tôi” quá lớn, ít chịu tiếp thu, học hỏi những kiến thức, thành quả của lĩnh vực khác cho sự phát triển của chính mình. Đó là điều cần phải thay đổi để có thể nói đến hai chữ “hội nhập”.

Riêng về ngành CNTT, qua các phương tiện thông tin đại chúng, tôi được nghe quá nhiều về những định hướng phát triển công nghiệp phần mềm với mục tiêu giá trị 500 triệu USD vào năm 2005 nhưng cuối cùng thì mục tiêu này đã không hoàn thành được, trái với những kỳ vọng ban đầu của những người đề ra nó. Đến nay, người ta lại chuyển sang mục tiêu mới là xuất khẩu nhân lực phần mềm với những con số còn tham vọng hơn (!). Tôi có cảm giác, định hướng phát triển CNTT của chúng ta hình như đang đi nhầm đường. Chính vì vậy, tôi chỉ mong bản thân ngành CNTT hãy nhìn vào những thực tế thiết thực hơn cho chính đất nước mình. Đó là đẩy mạnh ứng dụng CNTT và định hướng đào tạo người sử dụng và điều này phải là thực tế của chính môi trường đào tạo về CNTT chứ không phải là sự vận động của riêng các ngành học có nhu cầu ứng dụng CNTT, trong đó có ngành điện ảnh của chúng tôi.

Cảm ơn ông!

Đức Hoàng

Thực hiện

  • Đọc toàn bộ bài viết triên báo Bưu điện Việt Nam cuối tháng 12/2007