Cuộc chơi về luật định (Kỳ I)
Để có thể tham gia “sân chơi” WTO mà không bị thua thiệt, việc nắm bắt và vận dụng linh hoạt những quy tắc, luật lệ của sân chơi này là điều vô cùng quan trọng đối với các nhà quản lý và doanh nghiệp Việt Nam. BĐVN xin trân trọng giới thiệu bài viết dưới đây của TS. Phan Minh Ngọc, Khoa Kinh tế, ĐH Kyushu, Nhật Bản, nhằm giúp các nhà quản lý và doanh nghiệp viễn thông hiểu thêm về vấn đề này...
WTO: Cuộc chơi công bằng trên toàn cầu
Tới đây, khi Việt Nam gia nhập WTO, trên lý thuyết, những luật định của WTO sẽ có một ảnh hưởng quan trọng lên ngành viễn thông và buộc hệ thống luật định trong nước về viễn thông cũng phải thay đổi theo tương ứng. WTO quy định các nước thành viên phải ban hành các chính sách dựa trên các nguyên tắc mang tính nghĩa vụ áp đặt bởi WTO, nhằm thực hiện một cuộc chơi công bằng trên toàn cầu.
Có điều, mức độ thi hành các luật lệ của WTO đến đâu, ảnh hưởng của nó như thế nào lại phụ thuộc chủ yếu vào lập trường pháp chế của nước thành viên. Một nước thành viên có lập trường pháp chế thân thiện với cạnh tranh sẽ tích cực áp dụng các nguyên tắc của WTO và do đó thúc đẩy tiến độ tự do hóa ngành viễn thông. Ngược lại, lập trường chống cạnh tranh sẽ là một rào cản phi thuế quan lớn đến quá trình tự do hóa của ngành này.
Trong ngành viễn thông, nguyên tắc của WTO phản ánh chủ yếu trong “Nghị định thư thứ tư” (Fourth Protocol). Nghị định thư này gửi đi một thông điệp rõ ràng cho những nước muốn gia nhập WTO là họ phải tự do hóa, cải tổ ngành dịch vụ viễn thông, và phải cam kết cải cách luật định. Nhưng có điều thú vị là ảnh hưởng của WTO lên ngành viễn thông Việt Nam đã và đang xảy ra, trước thời điểm Việt Nam chính thức là thành viên.
Nghị định thư thứ tư quy định cơ quan điều tiết luật phải được tách rời khỏi doanh nghiệp viễn thông, không được thiên vị bất cứ một thành viên thị trường nào. Việt Nam đã thực hiện khá tốt điều này, ít nhất là trên danh nghĩa, và chấm dứt tình trạng vừa đá bóng, vừa thổi còi trong ngành.
Theo các thỏa ước song phương về gia nhập WTO, Việt Nam chấp nhận tiến hành tự do hóa hoàn toàn ngành này sau một số năm ấn định sau ngày gia nhập chính thức. Để đón trước những thách thức to lớn từ cạnh tranh nước ngoài, Việt Nam đã tiến hành mấy biện pháp lớn. Đầu tiên, ngành bưu chính được tách ra khỏi ngành viễn thông, để dọn đường cho Chính phủ có biện pháp đối xử khác nhau với 2 ngành này dựa trên đặc tính chuyên ngành và nhu cầu của chúng. Tiếp theo là khuyến khích sự phát triển của các đối thủ của VNPT như Viettel, EVN Telecom ít nhất bằng việc không ra mặt thiên vị VNPT để chèn ép các đối thủ này trong những tranh chấp, như kết nối... Mục đích của Chính phủ là tạo lập một môi trường cạnh tranh thực nghiệm để thúc đẩy các công ty này đổi mới công nghệ và năng lực quản lý, chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc cạnh tranh gay gắt thực sự sắp tới, với sự tham gia của các anh tài nước ngoài.
Như vậy, triển vọng gia nhập WTO trong tương lai đã đóng một vai trò lớn trong việc buộc Chính phủ phải cải tổ lại ngành viễn thông và cơ chế quản lý nó, trong một thời gian tương đối ngắn. Nhìn nhận bằng con mắt khắt khe có thể thấy diễn biến này được thiết kế ra là để bảo vệ thị trường nội địa, bằng cách nhanh chóng dùng các biện pháp hành chính để thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nội địa nhằm đối phó với sự cạnh tranh nước ngoài trong tương lai.
Tuy việc cải tổ ngành này đã dẫn đến việc tách bạch chức năng quản lý và kinh doanh nhưng đây chỉ là một điều kiện cần, chứ không phải là một điều kiện đủ để tạo ra một cơ quan quản lý độc lập, thân thiện với cạnh tranh, minh bạch, và công bằng theo những yêu cầu của Nghị định thư thứ tư. Việc cạnh tranh có quản lý giữa VNPT và các đối thủ cũng không giúp mấy trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của họ và ngăn chặn sự cạnh tranh từ nước ngoài, bởi trong môi trường cạnh tranh thực nghiệm này, ngoài VNPT tạm gọi là có “máu mặt”, chỉ có những đối thủ “tầm tầm”. Thêm vào đó, việc VNPT được cho là được ưu ái, bảo vệ hơn càng làm cho cuộc chơi chỉ mang tính nửa vời.
Những yếu tố pháp lý
Như đã nói, rào cản đối với sự xâm nhập thị trường của nhà đầu tư nước ngoài trong ngành dịch vụ có thể không phải là hàng rào thuế quan mà bằng các thể chế và luật định trong nước. Do đó, tác động tích cực của WTO lên ngành viễn thông Việt Nam sẽ phụ thuộc chủ yếu vào môi trường thể chế quốc gia nói chung và lập trường pháp chế của chính phủ trong ngành viễn thông nói riêng. Ngoại trừ những bằng chứng ban đầu về việc cải tổ nói trên (thực ra chỉ là biện pháp tự vệ trước nguy cơ cạnh tranh nước ngoài chứ không phải là thúc đẩy cạnh tranh), cho đến nay không có bằng chứng thuyết phục cho thấy Chính phủ có một kế hoạch tạo ra một môi trường pháp chế thân thiện với cạnh tranh cho nhà đầu tư nước ngoài, thể hiện trên những mặt sau đây.
Về bảo đảm cạnh tranh, theo Nghị định thư thứ tư, Chính phủ phải ngăn chặn việc các doanh nghiệp viễn thông có quyền lực thị trường lớn tiến hành các hành động có tính chống cạnh tranh như việc bù lỗ chéo giữa các lĩnh vực kinh doanh và giấu diếm các thông tin công nghệ và đặc tính kỹ thuật của mạng lưới v.v... Ở Việt Nam, ngay trong lĩnh vực dịch vụ điện thoại di động vốn có tính cạnh tranh lớn nhất đến nay, người ta cho rằng sự cạnh tranh này cũng chẳng dẫn đến một thay đổi về chất nào vì tất cả các thành viên thị trường hiện tại đều là doanh nghiệp Nhà nước, với mối quan tâm chung – đem lại doanh thu cho Chính phủ (khác với mục đích của doanh nghiệp tư nhân là tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông), và nằm dưới sự điều khiển của Bộ BCVT.
Về kết nối, vấn đề này được nhấn mạnh trong Nghị định thư thứ tư. Nó yêu cầu việc không được từ chối, hoặc đặt ra các trở ngại kỹ thuật cho các đối thủ để ngăn chặn kết nối với một doanh nghiệp kiểu như VNPT khi họ có yêu cầu kết nối. Kết nối được coi là một điều kiện cần cho cạnh tranh trong viễn thông. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện người ta đang phải chứng kiến những tranh chấp về kết nối, và phần thua thiệt bao giờ cũng thuộc về những đối thủ thấp cổ bé họng hoặc mới ra đời. Trên phương diện này cũng chưa có một luật định rõ ràng, hữu hiệu, có tác dụng thúc đẩy cạnh tranh. Hơn nữa, cũng chưa có một quy chế nào về việc cho phép người sử dụng được giữ nguyên số điện thoại khi thay đổi hãng điện thoại. Thực tế cho thấy người sử dụng rất ngại phải thay đổi hãng điện thoại nếu họ không được giữ nguyên số điện thoại hiện có, và tức là việc cạnh tranh càng khó xảy ra.
TS. Phan Minh Ngọc
Khoa Kinh tế, Đại học Kyushu, Nhật Bản