Điện thoại cố định không dây: VNPT chậm hơn Viettel

ICTnews - VNPT chính thức khai trương dịch vụ GPhonetừ ngày 31/5 nhưng đến nay chưa cung cấp trong khi Viettel vừa đưa ra dịch vụ điện thoại cố định không dây HomePhone.

GPhone của VNPT đã ra mắt rầm rộ vào tháng Năm nhưng khởi động chậm vì chờ thiết bị đầu cuối. Ảnh: Thái Khang

Lý giải về sự chậm trễ này, ông Bùi Thiện Minh, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) cho biết, hiện VNPT mới có 2.000 thiết bị đầu cuối của dịch vụ này đáp ứng đúng theo quy định của Bộ Bưu chính Viễn thông chỉ hoạt động được trong 1 Cell, nhưng đến tháng 8 sẽ có khoảng 60.000 máy đầu cuối. Thời điểm đó VNPT sẽ triển khai rộng rãi dịch vụ này trên phạm vi toàn quốc. Theo tính toán của VNPT, thị trường cho dịch vụ này sẽ cần khoảng 1 triệu máy đầu cuối.

Thực chất đây là dịch vụ thay thế cho dịch vụ điện thoại cố định có dây tại vùng nông thôn. Dịch vụ GPhone có ưu điểm tận dụng được hạ tầng của mạng di động để cung cấp dịch vụ điện thoại cố định.

Triển khai dịch vụ vô tuyến cố định không dây có thể tiết kiệm đến 90% chi phí đầu tư

Nhanh chân hơn, từ ngày 20/7/2007, dịch vụ HomePhone của Viettel cho phép khách hàng sử dụng điện thoại cố định mà không cần phải kéo dây lắp đặt. Như vậy, Viettel là nhà cung cấp dịch vụ điện thoại vô tuyến cố định thứ 2 trên thị trường sau EVN Telecom.

Dịch vụ này được cung cấp dựa trên hạ tầng của mạng di động Viettel Mobile. Chính vì thế, Viettel có thể đưa HomePhone đến với khách hàng tại bất cứ nơi nào có sóng di động của Viettel trên khắp cả nước. HomePhone dùng sim và máy điện thoại chuyên dụng do Viettel cung cấp và có thể nhắn tin giữa các thuê bao HomePhone với nhau và giữa HomePhone với các thuê bao điện thoại di động của Viettel.

Cước và quy định về đánh số thuê bao theo từng địa phương giống như điện thoại cố định. HomePhone có thể cung cấp theo hai hình thức trả trước và trả sau như dịch vụ điện thoại di động.

Ngày 29/5/2007, Bộ Bưu chính Viễn thông đã có văn bản cho phép các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại vô tuyến cố định trên hạ tầng mạng GSM. Tuy nhiên, thiết bị đầu cuối của dịch vụ phải là thiết bị cố định được đặt tại nhà thuê bao. Mỗi thiết bị vô tuyến cố định này chỉ được đăng ký kết nối với 1 trạm gốc (1 BTS – 1 Cell) nhất định và không cho phép chuyển vùng giữa các Cell đối với các thuê bao vô tuyến cố định. Bộ sẽ thành lập các đoàn kiểm tra việc triển khai cung cấp dịch vụ vô tuyến cố định này. Thành phần đoàn kiểm tra sẽ có sự tham gia của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông.

Mặc dù thị trường dịch vụ vô tuyến cố định không dây sẽ có tới 3 nhà cung cấp dịch vụ, nhưng phía EVN Telecom tỏ vẻ lạc quan về ưu thế cạnh tranh của mình. EVN Telecom cho biết hiện họ đã có tới gần 1,5 triệu thuê bao vô tuyến cố định không dây. Với băng tần 450 Mhz có ưu thế vùng phủ sóng rộng, chi phí thấp và đảm bảo được chất lượng dịch vụ cho các vùng sâu, vùng xa, đây là sẽ những lợi thế để EVN Telecom cạnh tranh được với các nhà cung cấp khác.

EVN Telecom phân tích, nếu so với dịch vụ dịch vụ điện thoại cố định truyền thống, việc triển khai dịch vụ vô tuyến cố định không dây có thể tiết kiệm đến 90% chi phí đầu tư và 92% về thời gian triển khai và cung cấp dịch vụ. Vì vậy, trong thời gian gần đây, dịch vụ này luôn có mức tăng trưởng rất mạnh và cao hơn khoảng 12% so với dịch vụ điện thoại cố định truyền thống.

Hiện cả 3 nhà cung cấp dịch vụ điện thoại vô tuyến cố định không dây đều có thế mạnh riêng của mình. Tuy nhiên, phải đến hết năm 2008 thị trường vô tuyến cố định không dây ai thành, ai bại mới bắt đầu lộ diện.

Thái Khang