Doanh nghiệp viễn thông phải bỏ "bệnh" ỷ lại

Ảnh: Thái Khang

Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng

Trả lời phỏng vấn báo BĐVN về các vấn đề hậu WTO, Thứ trưởng Bộ BCVT Nguyễn Thành Hưng nói doanh nghiệp viễn thông cần phải thay đổi "căn bệnh" của doanh nghiệp nhà nước, nhưng vẫn tin rằng các doanh nghiệp viễn thông chủ đạo sẽ cạnh tranh tốt

Hiện chúng ta đã vào WTO, vấn đề liệu các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam có cạnh tranh được trên “sân nhà” hay không đang được nhiều người quan tâm. Vậy theo Thứ trưởng đâu là điều chúng ta lo ngại nhất khi cạnh tranh trong WTO?

Tôi cho rằng, vấn đề hiện nay của chúng ta khi chính thức bước vào WTO là các doanh nghiệp có nhận thức được những thách thức để tích cực đổi mới và thay đổi cách làm việc hay không. Thị trường biến đổi liên tục, nên doanh nghiệp cần phải thay đổi để thích nghi với môi trường. Đây là yếu tố quyết định để chúng ta vượt qua được sức ép cạnh tranh khi gia nhập WTO. Hiện các doanh nghiệp nhà nước vẫn mang trong mình "căn bệnh"  kém năng động và ỷ lại vào nhà nước. Vì vậy, khi chúng ta đã vào WTO, chính các cơ quan quản lý nhà nước phải tạo cho doanh nghiệp cơ chế năng động và doanh nghiệp phải từ bỏ "căn bệnh" ỷ lại và kém năng động này. Có như vậy, các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam mới có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài.

Mặc dù có nhiều thác thức, nhưng tôi tin tưởng các doanh nghiệp Việt Nam sẽ cạnh tranh tốt trên “sân nhà”, đặc biệt là các doanh nghiệp chủ đạo.

Vậy nhà nước đã có những động thái gì để giúp các doanh nghiệp hội nhập trong WTO?

Trong WTO, cơ quan quản lý nhà nước đưa ra các cơ chế chính sách phân biệt đối xử, hay cơ chế "xin cho" sẽ không còn phù hợp. Trong thời gian vừa qua, Bộ BCVT đã tạo ra môi trường bình đẳng cạnh tranh và tạo ra các cơ chế chính sách để các doanh nghiệp có thời gian và điều kiện chuyển đổi.

Khi chúng ta vào WTO, đối với lĩnh vực viễn thông thì doanh nghiệp và người tiêu dùng được gì?

Tôi cho rằng, chúng ta vào WTO vừa có thách thức, vừa có cơ hội. Thách thức trong ngành viễn thông nếu chúng ta không cạnh tranh được sẽ mất thị trường và doanh nghiệp sẽ bị phá sản. Tuy nhiên, vào WTO các doanh nghiệp sẽ không bị tụt hậu, vì họ buộc phải đổi mới để phát triển và cạnh tranh. Hiện chúng ta mới chỉ có các doanh nghiệp trong nước canh tranh với nhau trong vài năm qua, nhưng khách hàng đã được lợi như đã dạng dịch vụ, giá cước liên tục giảm, phong cách phụ vụ hướng đến khách hàng… Thông qua việc cạnh tranh khi vào WTO, khách hàng sẽ được lợi nhiều hơn. Tuy nhiên, nếu chỉ khách hàng được lợi không hẳn đã tốt, mà phải bảo đảm bảo quyền lợi 3 bên Nhà nước - Doanh nghiệp - khách hàng, lúc đó doanh nghiệp mới có vốn để tái đầu tư. Vấn đề ở đây nhà nước phải điều tiết tốt để đảm bảo quyền lợi 3 bên này. 

WTO vẫn là con đường dài và nhiều khó khăn, vậy chúng ta đã chuẩn bị cho những thách thức này ra sao?

Những thách thức đặt ra khi vào WTO bắt buộc chúng ta phải lường trước để vượt qua. Khi vào WTO, chung ta cam kết mở cửa một số dịch vụ viễn thông. Vì vậy, chúng ta tạo ra lộ trình để các doanh nghiệp trong nước có thời gian chuẩn bị, thay đổi phù hợp với điều kiện mới. Thời gian đó cũng chỉ giới hạn, nên vấn đề đặt ra là liệu doanh nghiệp có ý thức được vấn đề cần thiết phải thay đổi hay không. Tôi hy vọng các doanh nghiệp Việt Nam phát triển tốt để các cam kết bảo hộ có thời hạn chỉ tồn tại trên giấy. Đó là mục tiêu của cơ quan quản lý nhà nước chứ không phải nhờ rào cản này thì các doanh nghiệp trong nước mới phát triển được.

Theo dự báo, sẽ có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam sau WTO. Vậy theo ông trong viễn thông thì lĩnh vực nào sẽ được các doanh nghiệp nước ngoài quan tâm nhiều nhất?

Khi chưa mở cửa thị trường viễn thông, bản thân thị trường viễn thông đã hấp dẫn và khi mở cửa thị trường này sẽ còn hấp dẫn và thu hút nhiều nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư của Mỹ. Nhìn từ góc độ cam kết và yêu cầu của phía Mỹ khi đàm phán với Việt Nam sẽ nhận thấy các doanh nghiệp nước ngoài quan tâm đến lĩnh vực gì. Theo tôi, việc đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực thông tin di động sẽ không được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhiều. Điều mà họ quan tâm là đầu tư gián tiếp khi chúng ta cổ phần hóa các mạng di động. Sở dĩ như vậy, vì các doanh nghiệp nước ngoài cho rằng việc đầu tư trực tiếp qua liên doanh thì chỉ  được góp vốn tối đa 49% và bị hạn chế đối tác cùng nhiều ràng buộc khác. Nhưng với việc lựa chọn mua cổ phần của các công ty viễn thông sẽ có cơ chế thoáng hơn. Ngoài lĩnh vực thông tin di động, những phần nào các doanh nghiệp Việt Nam yếu thì các doanh nghiệp nước ngoài sẽ đầu tư. Chẳng hạn như những dịch vụ mà có giá trị cộng thêm cao như dịch vụ VPN. Những dịch vụ này sẽ được các công ty lớn sử dụng để đảm bảo việc truyền số liệu với giá thành thấp nhưng chất lượng cao. Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp dịch vụ này chưa tốt và chưa có nhiều thay đổi về cách thức cung cấp những dịch vụ như vậy. Một dịch vụ nữa mà các doanh nghiệp nước ngoài nhắm đến là dịch vụ cho thuê kênh. Hiện nay các công ty cho thuê kênh quốc tế của Việt Nam vẫn ở tình trạng đi thuê lại kênh của các nước khác để cung cấp dịch vụ. Vì vậy, trong đàm phán các nước đưa ra đề nghị cho họ cung cấp dịch vụ qua biên giới như được phép kênh vệ tinh trực tiếp với khách hàng. Để chuẩn bị cho việc cạnh tranh này, chúng ta có thời gian chuyển đổi vì theo lộ trình. Ban đầu các doanh nghiệp nước ngoài chưa thể cung cấp trực tiếp các dịch vụ này cho khách hàng, mà chỉ giới hạn các tổ chức doanh nghiệp, sau một thời gian mới được cung cấp trực tiếp tới khách hàng.

Với việc Việt Nam chính thức gia nhập WTO, nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ đầu tư vào Việt Nam. Như vậy, thị trường Việt Nam sẽ sôi động vào năm 2007?

Tôi cho rằng, năm 2007 có thể thị trường sẽ chưa sôi động vì thời điểm này chúng ta đang hoàn thiện việc cổ phần hóa các mạng di động. Vì vậy, năm 2008 sẽ là năm rất sôi động vì trong lĩnh vực BCVT sẽ thu hút được rất nhiều các nhà đầu tư nước ngoài.

Theo ông việc chúng ta gia nhập WTO, có là tác nhân tích cực cho việc đẩy mạnh việc cổ phần hóa các doanh nghiệp viễn thông hay không, đặc biệt là việc cổ phần hóa các mạng di động?

Gia nhập WTO gây sức ép cho chúng ta phải cố phần hóa, nhưng mặt khác chúng ta có nhu cầu mở cửa và tăng cường kinh nghiệm và vốn để tăng cường năng lực cho các doanh nghiệp. Vì vậy, tôi cho rằng đây là câu chuyện đến từ hai phía chứ không chỉ là sức ép từ WTO.

Xin cảm ơn ông!

Thái Khang

thực hiện

Theo Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng, hiện đa phần các doanh nghiệp viễn thông là các doanh nghiệp của nhà nước và hạn chế về rất nhiều mặt như vốn, kinh nghiệm... và chưa bao giờ phải cạnh tranh với các đối thủ lớn. Các doanh nghiệp Viễn thông Việt Nam cạnh tranh với nhau ở mức thấp như giảm cước, khuyến mại, chứ chưa cạnh tranh bằng việc tạo ra các giá trị dịch vụ của mình tạo nên chất lượng dịch vụ hoàn hảo để cạnh tranh thu hút khách hàng. Khi các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường Việt Nam, những biện pháp cạnh tranh theo kiểu khuyến mãi, giảm cước này sẽ phản tác dụng. Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng cho rằng, khi vào WTO, các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều nguy cơ như mất nguồn nhân lực. Hiện nay, đã có chuyện cán bộ từ doanh nghiệp này nhảy sang doanh nghiệp khác, nhưng dẫu sao đó cũng chỉ là các doanh nghiệp viễn thông trong nước. Nhưng khi các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam, họ sẽ hút hết nguồn nhân lực chất lượng cao của chính các doanh nghiệp Việt Nam.