1a.png
Lễ cải táng Liệt sỹ Nguyễn Văn Non, Trưởng đài Vô tuyến điện Tỉnh uỷ Bà Rịa - Long Khánh, hy sinh ngày 15/8/1968.

Vì đồng đội quên mình

Đội quy tập mộ liệt sĩ ngành Bưu điện thành lập ngót 1 năm nay, từ ngày 2/7/2011 với 12 thành viên thường trực đều là những cán bộ, chiến sĩ thông tin liên lạc năm xưa và một số đồng đội đã từng chôn cất chiến sĩ trong kháng chiến chống Mỹ. Họ không phải đội tìm kiếm mộ liệt sĩ chuyên nghiệp, mà hình thành từ nghĩa tình đồng đội, tình cảm thân thương của những cựu chiến sĩ thông tin liên lạc trong hòa bình. 

Trong đội có ông Trần Văn Phúc là thành viên khó khăn nhất và cũng là thành viên tích cực nhất. Ông Phúc xưa là chiến sĩ thông tin liên lạc tỉnh Bà Rịa - Long Khánh (tên gọi xưa), hòa bình về, ông công tác tại Bưu điện huyện Vĩnh Cửu, một huyện vùng sâu của tỉnh Đồng Nai. Con đông, hiện cuộc sống gia đình chủ yếu nhờ vào đồng lương hưu ít ỏi của ông. Đó là chưa kể ông có một đứa con bị bệnh tâm thần do ảnh hưởng của chất độc da cam.

Nghe thành viên trong đội kể lại, mỗi lần đến điểm tập kết tại Bà Rịa, tuổi đã cao nhưng ông vẫn tự đi bằng xe máy. Có hôm còn không có tiền đổ xăng, tiền ăn dọc đường, nhưng ông vẫn đi, đi để hỗ trợ đội tìm kiếm. “Không có chú Phúc đi chung là khó lắm. Bởi hoạt động từ năm 1965 đến tận hồi giải phóng trên địa bàn này nên chú nắm rõ và nhớ như in ai hy sinh ở đâu, khi nào”, ông Nguyễn Minh Tân, thành viên giữ vai trò điều phối đội thừa nhận.

Sau gần 1 tháng rưỡi thành lập, đội đã tìm được 23 hài cốt liệt sĩ, trong đó có 22 hài cốt liệt sĩ thông tin liên lạc và 1 hài cốt liệt sĩ giao bưu. Đến tháng 2/2012, tìm được 2 mộ liệt sĩ là Phạm Văn Xem và Phan Văn Lạc, chiến sĩ thông tin liên lạc ở miền Đông và ở Bà Rịa - Long Khánh. Đến nay số mộ liệt sĩ đội tìm được là 25 mộ. Con số 25 mộ tìm được đối với một đội tìm kiếm không chuyên thành lập chưa đầy một năm tại thời điểm tháng 2/2012 là một thành tích đáng nể. Tuy nhiên, đằng sau đó là những chuyến hành trình tìm kiếm vô cùng khó khăn, khắc nghiệt mà những thành viên tuổi cao sức yếu đã phải trải qua. Sau mỗi lần tìm kiếm, các thành viên trong đội ngồi lại với nhau mà giật mình khi nghĩ, đâu đó quanh khu vực tìm kiếm có khi còn sót những quả bom mìn của chiến tranh, rồi thú dữ, rắn rết…  

Gian truân hành trình tìm kiếm

Khi chưa có đội quy tập, ông Phúc đã cùng Ban thông tin liên lạc tỉnh Bà Rịa – Long Khánh đi tìm kiếm mộ liệt sỹ rất nhiều lần nhưng không thành công. Đội quy tập đi vào hoạt động, 4 chuyến đi đầu tiên tìm 5 mộ liệt sĩ hy sinh trên chiến trường miền Đông ngày 16/6/1967, đều không mang lại kết quả. Đội quy tập bắt đầu xác định lại khu căn cứ bị đánh bom. Giúp đội tìm kiếm có ông Tâm, là người chôn cất liệt sĩ xưa đi cùng. Ông Tâm vẫn nhớ như in cảnh vật xưa và cái thời khắc đồng đội ngã xuống. Nhưng cái khó là chiến trường xưa là rừng, bây giờ đã thành rẫy của đồng bào nên rất khó tìm đúng nơi chôn cất.

Hôm đó là ngày 16/6/1967, nhằm ngày 6/5 âm lịch, Ban thông tin liên lạc Bà Rịa ăn sáng xong và chuẩn bị học văn hóa 1 giờ đồng hồ. Khoảng 7 giờ 15 phút thì trái bom chụp của Mỹ thả xuống tại nhà bếp, làm 5 đồng chí hy sinh ngay tại đó và bị thương 4 đồng chí, nhưng rồi 2 đồng chí cũng hy sinh khi khiêng đi dọc đường.

Hiện vật còn sót lại ngày nay quanh khu vực này là tảng đá bề mặt 20m2, bằng phẳng mà ngày xưa anh em chiến sĩ vẫn hay gọi là bàn Phật. Một tia hy vọng hé lên trên gương mặt những người tìm kiếm. Cạnh đó, đội tiếp tục tìm thấy giếng nước mà ngày xưa các chiến sĩ đào lấy nước sinh hoạt. Một hiện vật thứ ba để đội xác định đúng tọa độ các ngôi mộ là cái sân đá, nằm cách khu vực giếng nước độ 80m, cái sân đá ngày xưa đoàn văn công thường đến biểu diễn phục vụ chiến sĩ cách mạng.

Từ ba hiện vật này, đội tìm kiếm đã lần dò được đến nơi chôn cất. Ông Tân cho biết: “Khi đã xác định được các hiện vật rồi, đội tiến hành đào quanh hai lần mà vẫn không tìm thấy gì cả. Đào từ 10 giờ trưa đến 5 giờ chiều thì mới đào trúng ngôi mộ đầu tiên. Năm anh em nằm kề nhau, quần áo rách nát, không một mảnh hòm, thân thể đã bị phân hủy, chỉ còn lại nắm xương nhỏ. Đau xót hơn, có một thi thể không có đầu. Nhìn cảnh đấy, mà lòng chúng tôi quặn đau, có người còn bật khóc. Những mệt mỏi trong ngày không còn nữa, thay vào đó là một cảm xúc gần như khó tả, mừng tủi xen lẫn một niềm đau đáu”.

Những ai đã từng chứng kiến cảnh sum họp sau 40 năm chia cách thì mới hiểu hết được cuộc sống, hiểu được tình người, tình đồng đội. Mỗi một thi hài liệt sĩ được tìm thấy là một lần đội quy tập được sống lại những cảm xúc của tình đồng chí, đồng đội ngày xưa. Nhắc đến lần tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Non trên đỉnh núi Dinh (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), ông Tân kể, đi từ dưới chân núi lên khoảng 500m thì đến nơi tìm kiếm. Trong đoàn toàn người lớn tuổi nên phải đi mất 1 tiếng 45 phút. Cứ đi 10m là phải nghỉ chân nhưng khi lên đến nơi thì mọi mệt mỏi tan đâu mất. Lại một lần nữa, đội quy tập vỡ òa niềm vui khi tìm thấy thi thể đồng đội nằm giữa núi rừng hoang lạnh. Đường xuống núi còn gian nan hơn khi chân phải bám thật chặt để tránh trượt ngã. Trong đoàn còn có hai người lớn tuổi là thân nhân liệt sĩ, không đi được, phải nhờ dân quân khiêng xuống. Thế nhưng đường xuống núi, bước chân cứ nhẹ nhàng và phơi phới, cả đội như sống lại những giờ hành quân đường rừng của 40 năm trước.

Nhưng có lẽ xúc động và nhớ nhất là lần tìm mộ liệt sĩ thứ 25, liệt sĩ Phạm Văn Xem, hy sinh ngày 10/3/1966. Ông Tân kể: “Lúc anh Xem trúng bom B52, tôi cũng có ở đó. Bị thương nặng, chân anh gãy hết, chỉ còn dính lại miếng da. Trong lúc được sơ cứu, anh cứ luôn miệng nói, để bông băng, thuốc men lại cho các anh em khác, tôi chắc có lẽ không qua khỏi. Tháng 3 tôi chưa đóng tiền Đảng phí, mong các anh ở lại lấy tiền sinh hoạt phí tháng 3 của tôi đóng Đảng phí giùm tôi”.

Với những chiến sĩ còn sống đến ngày hôm nay, đó là lời động viên họ tiếp bước trên con đường tranh đấu đến ngày hòa bình. Việc tìm mộ liệt sĩ Phạm Văn Xem có một ý nghĩa đặc biệt đối với mỗi thành viên trong đội quy tập. Cái khó ở chỗ, sau khi qua đời tại bệnh viện dân y, liệt sĩ Phạm Văn Xem được bệnh viện chôn cất. Đồng đội không ai biết nơi an nghỉ của ông. Trong kháng chiến, căn cứ phải thay đổi liên tục, bệnh viện dân y cũng không còn nữa, dần dần, cũng không ai biết chính xác mộ ông Xem ở đâu.

Ông Tân cho biết thêm: “Biết là gần Bà Hào – Trị An nhưng tìm không ra. Chiến trường xưa, nay đã thay đổi biết bao nhiêu rồi. Đợt vừa rồi, đội quyết tâm tìm, tìm từ đường đi cũ dần gặp được căn cứ dân y giữa rừng già, đi về hướng có hầm hố nhiều, theo lối mòn của người dân đến một bãi đất trống, nghi rằng có nghĩa trang. Lúc đó, chúng tôi còn chấp tay vái lạy anh Xem cho chúng tôi tìm gặp anh để đưa anh về với gia đình. Sau đó đào thì gặp mộ anh”.

Đây là cuộc tìm kiếm gian khổ nhất, 14 người phải thuê xe ôm chạy theo đường rừng 45 phút, xuống xe đi bộ hơn nửa giờ đồng hồ, băng giữa rừng già mịt mùng, tăm tối. Nhưng trong lòng mỗi người đều thôi thúc phải tìm cho bằng được liệt sĩ Phạm Văn Xem.

“Còn đội là còn tìm kiếm”

Việc đi tìm hài cốt đồng đội hy sinh với muôn vàn khó khăn, gian khổ ấy là minh chứng rõ ràng cho quyết tâm cao, cho tấm lòng nghĩa tình, cho truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" của những người đồng đội còn sống và thời gian qua đã đáp ứng phần nào nguyện vọng của gia đình liệt sĩ. Điều đáng nói nữa là truyền thống, đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của ngành Bưu điện Việt Nam đã có sức hút và lan tỏa rất lớn trong cán bộ, công nhân viên hiện nay. Ông Tân nhận thấy rằng: “Tôi đi đâu, gặp anh em ngành Bưu điện thì họ cũng hỏi thăm việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ như thế nào và kết quả ra sao. Họ thể hiện mong muốn, đội quy tập hãy tìm nhiều hơn nữa để vơi bớt đi nỗi lòng thuơng nhớ của những gia đình liệt sĩ”.

Hoạt động tự nguyện, kinh phí tự bỏ ra, cùng với sự giúp đỡ một phần của Tổng công ty Bưu chính, Viễn thông Đồng Nai, Viễn thông Bình Dương, đội quy tập vẫn cố gắng duy trì hoạt động. “Có kinh phí hay không có kinh phí hỗ trợ thì chúng tôi cũng làm và làm cho đến nơi đến chốn vì nghĩa tình đồng đội”, ông Tân quả quyết.

Hiện số liệt sĩ theo danh sách mà đội có được vào khoảng 800 liệt sĩ, vừa là chiến sĩ thông tin liên lạc vừa là chiến sĩ giao bưu. Số mộ liệt sĩ đã được quy tập chưa có số liệu cụ thể. Tuy nhiên, do đặc thù hoạt động trong chiến tranh, chiến sĩ thông tin liên lạc thường làm việc tại căn cứ, ít đi đường hành lang, nếu có đi tải thì cũng đi tải theo đoàn, hy sinh có khu vực, nên mộ dễ tìm hơn. Trong khi đó, chiến sĩ giao bưu phải dẫn cán bộ, bộ đội qua đường, giao thư, bưu phẩm khắp chiến khu. Số lượng chiến sĩ hy sinh vì bom đạn quân thù rất lớn và rải rác khắp nơi.

“Giao bưu thời đó cực khổ lắm, phải băng rừng, vượt suối lại vừa phải tránh sự càn quét của quân thù. Lực lượng giao bưu hy sinh trong thời chiến chỉ xếp sau thanh niên xung phong và bộ đội về số lượng. Nhiều anh em chết trong lúc đi công tác còn không được chôn cất”, ông Tân bồi hồi kể lại.

Theo ước tính, hiện cả miền Đông còn khoảng 600 mộ liệt sĩ chưa được quy tập. Trong số đó, hầu hết là giao bưu. Trước mắt, đội đang rà soát lại danh sách số liệt sĩ đã được quy tập và chưa được quy tập, lập danh sách, lên kế hoạch báo cáo cơ quan chức năng, xin ý kiến chỉ đạo và tiếp tục tìm kiếm. Trong đợt này, đội sẽ tìm 3 mộ liệt sĩ còn lại của ngành thông tin liên lạc tại khu Long Thành, Nhơn Trạch...

“Thế hệ chúng tôi rồi cũng sẽ già yếu, và đến một ngày không làm nổi nhiệm vụ tìm kiếm đồng đội thì sẽ giao lại cho thế hệ đội quy tập trẻ tuổi sau này. Chừng nào không còn đội thì chừng đó hoạt động tìm kiếm mới dừng. Dù không đưa được nguyên vẹn hài cốt các anh thì cũng phải đưa được một phần thông tin thông báo với gia đình các anh”, ông Tân nhấn mạnh.

Nội dung được đăng trên báo Bưu điện Việt Nam số 96, 97, 98 ra ngày 10 /8/2012.