Ảnh: Thanh Hải

Ông Phan Tâm

Gánh nặng trên vai người đàm phán

Ông Phan Tâm, thành viên đoàn đàm phán Chính phủ về gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ngành viễn thông nói về những chuyện không có trong kết quả đàm phán.

Tuy chưa được kinh qua bất kỳ khoá đào tạo về đàm phán nào nhưng Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Bưu chính, Viễn thông) được đặt vào vị trí một chuyên gia đàm phán chuyên nghiệp. Không chỉ “thuộc bài” mà còn phải biết chọn thời điểm thích hợp tiếp cận “đối thủ”, mềm mỏng hay cứng rắn đúng lúc…Tất cả vì mục đích tối thượng: Bảo đảm chủ quyền  lợi ích quốc gia, vì sự phát triển của ngành và doanh nghiệp bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin.

Theo ông nghĩ vì sao mình được chọn là người trực tiếp đàm phán gia nhập WTO?

Thực ra, việc này nên hỏi lãnh đạo Bộ. Nhưng tôi nghĩ, như anh Hưng (Thứ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông Nguyễn Thành Hưng - PV) đánh giá tôi là người cẩn thận và thận trọng, không dễ giãi khi giải quyết một vấn đề, trong mọi công việc nói chung thường chịu khó tìm tòi, suy nghĩ, . Đấy là một trong những phẩm chất cần thiết của người đàm phán. Tôi không biết tôi đáp ứng được đến đâu các yêu cầu của Lãnh đạo về mặt này .Ngoài ra tôi cũng đã làm việc ở Vụ Khoa học công nghệ Hợp tác quốc tế nên có ít nhiều kinh nghiệm hợp tác quốc tế.

Trước khi nhận nhiệm vụ đàm phán, ông nghĩ thế nào về phẩm chất của người đàm phán, và những phẩm chất đó có thay đổi khi ông vào cuộc?

Tôi nghĩ, phẩm chất đầu tiên của người đàm phán là hiểu rõ lợi ích cần bảo vệ. Nhưng lợi ích của ngành phải đặt trong lợi ích tổng thể của quốc gia. Thứ hai phải hết sức tỉnh táo, nhạy bén trong những vấn đề mới phát sinh, trong phát hiện ý đồ thực sự của đối tác.  . Thứ ba là phải  nắm vững nghiệp vụ. Đàm phán chuyên ngành  nên cũng phải nắm bắt nghiệp vụ chắc chắn, cũng như thực tế và chiến lược phát triển của ngành mình như thế nào.

Trong những đối tác đàm phán, có đối tác nào mà mình "hạ gục" ngay từ đầu?

Thực ra, nếu nói cho cùng, có những nước nêu ra để có thế đàm phán sau đó rút . Có những nước do áp lực của doanh nghiệp trong nước cũng đặt vấn đề đàm phán, nhưng qua một vòng đàm phán họ rút lại yêu cầu Nhưng phải hiểu rằng, các nước khi đàm phán họ cũng phải đặt lợi ích kinh tế trong tổng thể mối quan hệ ngoại giao chung với Việt Nam. Họ hiểu có thể "ăn theo" Mỹ, EU vì yêu cầu đàm phán của hai đối tác này luôn rất rộng và rất cao, đặc biệt về dịch vụ viễn thông, chuyển phát . Bởi vậy họ không cần phải vất vả đàm phán với Việt Nam về dịch vụ viễn thông mà tập trung vào những lợi ích thực sự và riêng biệt/cá biệt của họ, tức là một số nhỏ vấn đề mà Mỹ, EU không thực sự quan tâm.

Nói cách khác, các nước đàm phán với Việt Nam có sự thoả hiệp ngầm, chia sẻ Việt Nam ra mà tấn công để giành những cam kết cuối cùng có lợi nhất cho tất cả những nước thành viên WTO sau này.

Thật vậy, kết quả đàm phán song phương riêng rẽ tốt nhất sẽ được tổng hợp lại và sẽ là cam kết của Việt nam trong WTO mà  tất cả thành viên WTO sẽ được hưởng. Thực tế có nhiều nước dù có lợi ích viễn thông rất lớn với Việt Nam nhưng họ không quá căng thẳng mà tập trung vào một lĩnh vực cụ thể  như BCC  vì họ biết Mỹ không có BCC nào với Việt Nam.

Thường khi nhận được thông báo đàm phán với Mỹ, ông phải chuẩn bị những gì, làm những gì?

Khi nhận được yêu cầu, nhiệm vụ đầu tiên là phản đối đã. Phải nghiên cứu lập luận phản bác, yêu cầu đó quá cao, quá vô lí Việt Nam không thể đáp ứng được.

Sau đó, đương nhiên mình phải tính đến phương án nhân nhượng. Qua các vòng đàm phán mình cũng điều chỉnh dần. Mình không thể giữ nguyên quan điểm không thể mở cửa. Mình phải nghiên cứu xem những chỗ nào căn cứ vào thực tiễn và chiến lược phát triển ngành mình và nền kinh tế nói chung, năng lực thực tế của nền kinh tế, của doanh nghiệp viễn thông trong thời gian ngắn, trung dài hạn, xem xét chỗ nào có thể nhân nhượng được để hai bên đi đến điểm gặp nhau. Bởi là đàm phán cả gói, viễn thông có kết thúc, mới kết thúc được đàm phán, mình cũng không thể quá cứng nhắc trong xu thế hội nhập của cả nước.

Tinh thần chỉ đạo của lãnh đạo Bộ là một mặt  phải đảm bảo lợi ích quốc gia, bao gồm vấn đề an ninh, chủ quyền, chính trị, đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành BC VT và CNTT Việt Nam nhưng đồng thời không để lĩnh vực viễn thông, chuyển phát trở thành trở ngại cho việc gia nhập WTO của Việt Nam. Phải hài hoà hai mục tiêu đó.

Giai đoạn đầu họ đưa yêu cầu, sau đó gặp trực tiếp đàm phán. Nhưng đến giai đoạn đi vào đàm phán thực chất, ngoài đàm phán công khai và chính thức trên bàn đàm phán cũng có những tham vấn trực tiếp ở cấp chuyên viên (trao đổi) qua các phương tiện e-mail, fax để làm rõ thêm quan điểm hoặc những vấn đề chưa rõ vì nhiều khi các yêu cầu đưa ra mình phải cùng làm rõ, hiểu bản chất yêu cầu họ muốn là gì và mình cũng phải thăm dò họ.

Nói chung, nước nào ban đầu cũng  đưa ra một yêu cầu rất cao, nắn gân mình. Mình cũng phải trao đổi, tìm hiểu qua email, gặp gỡ chính thức hoặc không chính thức trong các cuộc họp, nghỉ giải lao, chiêu đãi..., nói chuyện thân tình với họ để dò xem họ thực sự muốn gì. Cũng giống như khi mình đi chợ, người bán hàng thường nói thách mình phải thăm dò giá bao nhiêu để trả giá cho sát, đỡ bị hớ.

Việc kết thúc đàm phán với EU trước đã ảnh hưởng như thế nào đến đàm phán với Mỹ, thưa ông?

Về nguyên tắc, kết quả đàm phán song phương là bí mật nhưng vì lợi ích của các nước giống nhau nên không chính thức có những dấu hiệu cho thấy các nước có chia sẻ kết quả đàm phán với nhau. Vấn đề gì nước này chưa đạt được thì những nước đang đàm phán tiếp tục đòi. Kết quả đàm phán với EU, phía Mỹ trong chừng mực nào đó họ nắm được và buộc Việt Nam phải đưa ra cao kết cao hơn so với EU.

Nguyên tắc đàm phán thường là như  vậy, cứ cộng dần, các nước đi sau đòi được kết quả tốt hơ so với kết quảcác nước đã kết thúc đàm phán với Việt nam. Vì vậy kết quả đàm phán với Mỹ có thể nói là EU “cộng”. . Nước nào đàm phán gia nhập WTO cũng phải chấp nhận điều  này.

Mang nhiệm vụ đàm phán, sức ép gì là lớn nhất đối với ông?

Có lẽ về phía mình không biết  nhân nhượngthế nào là vừa. Bởi mình không lượng hoá được thuận lợi ra sao, khó khăn như thế nào cũng như sự chuẩn bị của doanh nghiệp  trong quá trình trước và sau hội nhập. Mình không lượng hoá được tác động của các mức cam kết . Đấy là sức ép lớn nhất. Lúc nào mình cũng cảm giác rất băn khoăn đưa ra mức cam kết như thế thì sau này sẽ như thế nào.

Có thể hiểu là không đánh giá được khả năng của mình?

Đánh giá được nhưng tất cả chỉ mang tính định tính, không thể lượng hoá được. Đấy là thực tế khó khăn của tất cả các nước đàm phán gia nhập WTO.

Các nước đàm phán với mình chắc thoải mái hơn, dù rằng họ có chịu áp lực của doanh nghiệp trong nước, vì họ chắc chắn chỉ được chứ không có mất. Đối với Việt Nam, chuyện vươn ra thị trường thế giới, tận dụng được các cơ hội đầu tư ra nước ngoài, tận dụng được vốn nước ngoài đầu tư, công nghệ mới... mình không lượng hoá được. Ai cũng thấy có nhiều cơ hội nhưng không ai có thể khẳng định được là sẽ tận dụng đượccơ hội ở mức độ nào, và khắc phục được khó khăn ở mức độ nào.

Nhưng theo mọi người hiểu, đã có chỉ đạo về mức cam kết linh hoạt nhất định và ở vị trí đàm phán trực tiếp như ông chỉ cần làm sao đạt được kết quả đó?

Không. Ngay cả phương án sàn, tức mức cam kết cuối cùng có thể sử dụng được do các Bộ, ngành đề xuất lên cấp có thẩm quyền xem xét quyết định. Nhưng mức cam kết được xây dựng trên một số nhận định, đánh giá và dự báo vào một thời điểm nhất định còn sự phát triển của doanh nghiệp, nền kinh tế lại là một quá trình động, nó không dừng nên lúc nào đi đàm phán cũng rất lo các nhận định, đánh giá của mình chưa chính xác . Nếu như thế này, nếu như thế kia. Những cái nếu của mình sau này là sẽ ở mức độ nào...

Ông vừa là người tham gia đề xuất, vừa trực tiếp đàm phán, như vậy ông có sự chủ động lớn hơn nhiều người vẫn nghĩ?

Cũng không hẳn như vậy vì người đàm phán phải theo sự chỉ đạo. Trước tiên của Bộ mà trực tiếp là Bộ trưởng. Khi xây dựng phương án tiếp theo, phải có sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Chính trị. Còn trong thực tế đàm phán Trưởng đoàn đàm phán toàn quyền quyết định, trong khuôn khổ phương án đã được Chính phủ, Bộ Chính trị cho phép, đưa ra một mức cam kết để đảm bảo mục tiêu cuối cùng là kết thúc đàm phán.

Ở Trung Quốc có tin các nhà phân phối nội địa trách ông Long Vĩnh Đồ, nguyên Trưởng đoàn đàm phán WTO của Trung Quốc rằng đã nhân nhượng quá nhiều. Đã bao giờ ông nghĩ đến tình huống tương tự sẽ xảy ra với mình?

Đương nhiên là lo. Vì khi cam kết mở cửa thị trường, chắc chắn có người được, người mất nêu kiểu gì mình cũng chịu sự chỉ trích. Một số người không được hưởng lợi từ việc cam kết mở cửa thị trường họ sẽ không bằng lòng. Chắc chắn không có quyết định nào đưa ra làm hài lòng tất cả. Nhưng phải cân đối lợi ích của một nhóm nhỏ, một dịch vụ cụ thể, một ngành cụ thể với lợi ích tổng thể của nền kinh tế, lợi ích của cả quốc gia, .

Ông đã nghĩ có người trách mình?

Có chứ. Vì mình biết sẽ có được, có mất. Những người bị mất nghĩ trước hết đến trách nhiệm người đàm phán mặc dù người đàm phán chỉ là người đại diện thực thi một quyết định, chủ trương lớn của cấp lãnh đạo. Người đàm phán chỉ là cầu nối trong và ngoài nước. Mình tiếp nhận và phản biện quan điểm của đối tác , làm rõ quan điểm của phía mình. Đương nhiên, người đi đàm phán được tiếp xúc trực tiếp, có thể nắm bắt quan điểm đối tác thực chất một cách tương đối rõ hơn. Như tôi đã nói, cái được, mất khó đánh giá định lượng và phải xem xét trong bối cảnh tổng thể và xét đến lợi ích lâu dài.

Trên bàn đàm phán, ông có khó khăn do bất đồng ngôn ngữ, chẳng hạn đối tác nói giọng địa phương khó nghe?

Không có. Vì là ngành kỹ thuật nên không xảy ra. Nói chung, khi không hiểu thì hỏi lại, đề nghị giải thích rõ. Hoặc khi không biết nói gì thì cứ: "không thể đáp ứng được, khó khăn lắm" và nêu những lí do không thể mở cửa. Trong mọi trường hợp, mình đưa “bài tủ”, nói về những khó khăn của Việt Nam: Những cái chúng tôi chào là nỗ lực, cố gắng lắm rồi, không thể hơn được đâu, mong các ông thông cảm...

Hoặc có khi nào đối tác lấy cớ việc Việt Nam không thực hiện cam kết gây khó khăn cho ta?

Có. Trong mấy năm liền Uỷ ban Hỗn hợp Việt Nam - Hoa Kỳ rà soát việc thực hiện BTA. Họ đưa ra những vấn đề thành lập liên doanh, thành lập cơ quan quản lí độc lập... những vấn đề mình đã cam kết.

Ông đã giải thích thế nào?

Nhiều lắm. Như vấn đề liên doanh, bảo chúng tôi thực hiện nghiêm túc nhưng chẳng thấy đơn xin nào nên làm sao chúng tôi cho được.

Câu hỏi nào ông thấy ấn tượng nhất và khó trả lời nhất?

"Đã có nước nào gia nhập WTO mà xin ra khỏi WTO?" Hay "Có nước nào sau khi cam kết mở cửa dịch vụ viễn thông thì ngành đó sụp đổ, tan vỡ không?" Việt Nam phải đưa ra một ví dụ như vậy.

Đúng là có một thực tế, không có nước nào xin ra khỏi WTO, hoặc một nước mà sau khi gia nhập WTO ngành viễn thông sụp đổ.

Và ông đã đáp lại ra sao?

"Việc gì cũng phải có quá trình. Chúng tôi ủng hộ thôi nhưng chúng tôi mở cửa từng bước. Chúng tôi đã mở cửa hơn so với trước nhiều rồi. Bản chào như thế là tốt rồi. Trình độ phát triển của Việt Nam còn hạn chế: trình độ phát triển thấp, nền kinh tế chuyển đổi nên tuân thủ nguyên tắc tự do hoá từng bước."

Đánh giá của ông như thế nào về sự tham gia của nhà đầu tư Mỹ vào lĩnh vực viễn thông khi Việt Nam gia nhập WTO?

Giai đoạn ngắn và trung hạn sẽ ở mức độ vừa phải. nhưng nhà đầu tư của các nước khác sẽ khai thác được cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.

Vậy tại sao Mỹ lại “ép” Việt Nam như vậy về viễn thông?

Vì đấy là nguyên tắc của họ. Họ luôn tự hào là nước đi đầu trong việc thúc đẩy tự do hoá. Thứ nữa là họ tận dụng cơ hội đàm phán này để chuẩn bị cho tương lai làm ăn 5-10 năm sau với Việt Nam

Vả lại, đánh giá của tôi là trong ngắn hạn, 4-5 năm tới đầu tư của Mỹ vào lĩnh vực viễn thông không tăng một cáchấn tượng. Nhưng 7năm đến 10 năm nữa không biết như thế nào. Họ muốn chắc chắn về mức độ mở cửa thị trường Việt nam 10 năm tới phù hợp với lợi ích của họ. Việt Nam cũng muốn giữ quyền chủ động của mình, chỉ mở cửa tối thiểu. - Thứ trưởng Thương mại Lương Văn Tự thường nói rất muốn học kinh nghiệm Nhật Bản, mở cửa nhưng không nước nào vào được. Liệu lĩnh vực viễn thông có làm được như vậy không?

Nhà nước và doanh nghiệp cùng nỗ lực thì cũng giữ vững được thị trường. Nhưng có lẽ, chúng ta cũng cần vốn, công nghệ cao, kỹ năng quản lí tiên tiến... Vấn đề là mình hội nhập, mình hợp tác như thế nào sao cho mình ở thế chủ động, hài hoà lợi ích các bên.

Cám ơn ông!

Lê Hạnh

thực hiện