Lực lượng triển khai Chính phủ điện tử ở Việt Nam cần được củng cố và tăng cường từ trung ương đến địa phương (Trong ảnh: Phòng phát triển CNTT - Trung tâm tin học Bộ GTVT). Ảnh: Thanh Hải

Diễn đàn “Xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam”:

Gỡ ngay các rào cản "Chính phủ điện tử"

BĐVN -- Theo giới chuyên môn, việc triển khai Chính phủ điện tử (CPĐT) giai đoạn 2007-2010 nên thay đổi cách chỉ đạo, phương thức triển khai, thu hẹp mục tiêu.

  • Tiến tới Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Một vấn đề không kém quan trọng nữa là phải có ngay những văn bản mà thiếu nó đang làm cản trở ứng dụng CNTT.

Mục tiêu: Ưu tiên phục vụ điều hành

Có lẽ cân nhắc sau kết quả các chương trình ứng dụng CNTT gần đây, nhất là Đề án 112 và thực tế thời gian triển khai ngắn, nhiều ý kiến cho rằng không nên đặt mục tiêu quá lớn cho việc triển khai CPĐT giai đoạn 2007-2010.

Theo ông Đỗ Đức Cường, Giám đốc Trung tâm Tin học, Bộ Nội vụ, “3 năm là thời gian rất ngắn, chỉ nên đặt ra mục tiêu thật khả thi. Quan trọng nhất với cơ quan quản lý nhà nước là điều hành trên phương tiện điện tử. 3 năm làm được cái này là thắng lợi lớn rồi”. Tương tự, ông Vũ Duy Lợi, Giám đốc Trung tâm CNTT, Văn phòng TW Đảng cho rằng “ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước thì mục tiêu đầu tiên phải là phục vụ cho sự chỉ đạo điều hành, sau đó là tiến tới cung cấp các dịch vụ công”. Theo ông Lợi, những việc liên quan đến hoạt động cung cấp thông tin để các lãnh đạo xử lý là rất quan trọng, trong đó hệ thống thư điện tử là công cụ hữu hiệu phục vụ cho sự chỉ đạo, điều hành.

Với việc phục vụ điều hành, ông Phùng Văn Ổn, Giám đốc Trung tâm Tin học, Bộ GTVT cho rằng “nên tập trung xây dựng hệ thống thư điện tử, hệ thống quản lý công văn và hồ sơ công việc, hệ thống hội nghị từ xa (video conference) và hệ thống cơ sở dữ liệu ngành để phục vụ việc ra quyết định”.

Cũng nhất trí là phải ưu tiên ứng dụng CNTT để phục vụ điều hành nhưng ông Lê Mạnh Hà, Giám đốc Sở BCVT TP. HCM cho rằng phải biết bắt đầu từ đâu. Theo ông Hà, “ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước là để giải quyết việc xử lý thông tin nhanh và nhiều. Vì thế, phải bắt đầu từ nơi nhiều thông tin nhất, với các tỉnh thành thì nơi này là từ cấp huyện”. Trong việc ứng dụng CNTT phục vụ điều hành, ông Đỗ Đức Cường cũng nhấn mạnh “phải đặt mục tiêu trao đổi thông tin điện tử trong cơ quan quản lý nhà nước chiếm bao nhiều phần trăm, số hoá bao nhiêu dữ liệu”.

Với việc cung cấp dịch vụ công, đa số ý kiến đề nghị chỉ nên chọn vài dịch vụ quan trọng, bức thiết với người dân, trừ những địa phương và bộ ngành có điều kiện có thể cung cấp nhiều dịch vụ công hơn. Việc cung cấp dịch vụ công theo ông Phùng Văn Ổn “phải có lộ trình rõ ràng và phải làm có kết quả thực sự để tạo niềm tin cho người dân”.

Gỡ ngay các rào cản

Để đạt được các mục tiêu đặt ra, tất cả các chuyên gia và những nhà quản lý mà Báo BĐVN phỏng vấn có chung nhận định là phải gỡ ngay những rào cản mà thiếu nó đang gây cản trở việc ứng dụng CNTT.

Theo ông Mai Anh, Giám đốc Trung tâm Tin học, Bộ KHCN, trước mắt phải xác định những vấn đề liên ngành đảm bảo cho việc ứng dụng CNTT thành công tại các bộ ngành và địa phương. Bốn “vấn đề liên ngành”, theo ông Mai Anh, gồm chuẩn thông tin trong giao dịch điện tử (để chia sẻ thông tin), định mức chi tiêu cho các dự án CNTT, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành để người dân có thể đi một cửa thực sự và các hệ thống thông tin nghiệp vụ quốc gia phục vụ hoạt động điều hành.

Tính liên thông giữa các hệ thống thông tin là yêu cầu quan trọng. Theo GS. Nguyễn Quang A, “nhiều việc có thể phân cho địa phương và các bộ làm, song hệ thống phải đảm bảo tính nhất quán về cấu trúc, về chuẩn, về các biểu mẫu, về giao tiếp. Nếu để cho 64 tỉnh làm theo kiểu 64 “vương quốc con”, mấy chục bộ làm theo kiểu “các chính phủ con” thì sẽ tai hại vô cùng và chắc chắn thất bại. Tính thống nhất của hệ thống phải được bảo toàn. Việc dùng công nghệ nào, thiết bị nào, máy nào không phải là vấn đề quan trọng, các hệ thống con phải giao tiếp được với nhau, tính nhất quán của dữ liệu mới là quan trọng”.

Trong các rào cản với ứng dụng CNTT, ông Phùng Văn Ổn cho rằng phải gỡ ngay cơ sở pháp lý về quản lý đầu tư CNTT, cụ thể là định mức kinh tế kỹ thuật, đặc biệt định mức về phần mềm. Vẫn theo ông Ổn, bế tắc của các dự án CNTT trước đây, cả đề án 112 chính là việc thẩm định và phê duyệt. Bộ GTVT có dự án CNTT bị chậm tới 8 tháng chỉ vì thiếu định mức CNTT. Nghị định 64 (về ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước) đã gỡ phần nào sự bế tắc của việc thiếu định mức phần mềm bằng cách cho phép áp dụng phương pháp định cỡ và chi phí phần mềm theo thông lệ quốc tế và khuyến khích thực hiện dự án phần mềm ứng dụng theo hình thức gói thầu (đấu thầu chọn gói). Nhưng trước khi đưa ra đấu thầu phải có dự toán tổng mức đầu tư, không có định mức thì không có cơ sở để lập dự tổng mức đầu tư. Hơn nữa, thực tế việc áp dụng thông lệ quốc tế với các dự án đầu tư trong nước chỉ thuận tiện với những dự án dùng vốn đầu tư nước ngoài. “Nếu không khắc phục được rào cản này, các dự án CNTT sẽ tiếp tục bế tắc như trước”, ông Ổn nói.

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến tập trung vào việc thống nhất triển khai các chương trình CNTT để tạo sự thống nhất, kiện toàn các đầu mối chuyên trách về CNTT tại các bộ ngành và địa phương. Theo ông Mai Anh, “bộ máy chỉ đạo quốc gia về CNTT không nên quá cồng kềnh như thời gian qua, các thành viên trong bộ máy chỉ đạo trước mắt cần đại diện các bộ ngành liên quan nhiều đến CNTT”. Còn theo ông Lê Mạnh Hà, “lực lượng triển khai thực hiện cũng cần được củng cố và tăng cường từ trung ương đến địa phương. Đề án 112 thất bại cũng có nguyên nhân quan trọng là không có bộ máy chuyên nghiệp triển khai”.

Đến nay, 64/64 tỉnh thành đã có Sở BCVT, cơ quan chuyên trách về CNTT của địa phương. Với các bộ ngành, đa phần đã chỉ định Trung tâm Tin học hoặc Cục tin học thống kê làm đơn vị chuyên trách. Tuy nhiên, vấn đề là Trung tâm Tin học của các bộ chỉ là đơn vị sự nghiệp, chỉ làm việc hỗ trợ kỹ thuật, đảm bảo hệ thống mạng chứ không có chức năng tham mưu. Vì vậy, như ông Phùng Văn Ổn nói, “để các Trung tâm Tin học ở các bộ thực sự là đơn vị chuyên trách phải được kiện toàn, mô hình cấp cục là phù hợp”.

Việc triển khai đề án CPĐT nên làm thí điểm ở một số bộ ngành và địa phương. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng “việc triển khai ở các địa phương nên lựa chọn vài nơi làm thí điểm, nhưng các bộ ngành phải làm đồng loạt”.

Đỗ Duy