- Ca dao, thơ lục bát, tranh vẽ với những hình ảnh làng xã thân thuộc là cách Bác Hồ chuẩn bị tinh thần cho nhân dân Việt Bắc trước một cuộc chiến dài và khốc liệt - chiến dịch Điện Biên Phủ - theo nhà nghiên cứu người Úc Rob Hurle.

Giữa những tham luận công phu về những khía cạnh chính trị, quân sự của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, TS. Rob Hurle (ĐHQG Australia) chọn một khía cạnh nhỏ bé, giản dị để nghiên cứu: Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ những năm 1940, đã đưa những hình tượng gần gũi trong đời sống vào thơ ca, tranh ảnh để kêu gọi và huy động nhân dân Việt Bắc, những người đa phần là mù chữ, đoàn kết cho cuộc đấu tranh với các lực lượng hùng mạnh của thực dân Pháp.

{keywords}
TS. Rob Hurle. Ảnh: Chung Hoàng

Trong cuộc trường kỳ kháng chiến không cân sức với thực dân Pháp, các lãnh đạo phong trào giải phóng thuộc địa, trong đó có Việt Minh, không có cách nào khác là dựa vào nhân dân, nhà nghiên cứu Úc viết trong tham luận trình bày tại hội thảo quốc tế về chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 5/5 ở Hà Nội.

Theo ông, ví dụ điển hình nhất về vai trò của nhân dân trong chiến dịch Điện Biên Phủ chính là sự chi viện: Việc xây dựng và sửa chữa hệ thống đường giao thông ước tính cần đến 20.000 dân công với phần lớn công việc được thực hiện thủ công.

"Trong cuộc tấn công cứ điểm, ước tính có đến 20.991 xe đạp và 11.000 thuyền nhỏ được sử dụng để tiếp ứng cho lực lượng Việt Minh; và có đến 261.451 dân công, cả nam lẫn nữ, và 500 ngựa thồ", ông Rob Hurle viết. Hầu hết hoạt động chi viện cho Điện Biên Phủ diễn ra ở Việt Bắc, địa hình phức tạp, nhiều dân tộc thiểu số, là thách thức lớn trong việc huy động và đoàn kết người dân cho một trận chiến lớn.

Nhà nghiên cứu người Úc chỉ ra: Bác Hồ trở về Việt Nam ngày 28/1/1940 sau 30 năm lưu lạc. Sống trong khu vực hang động ở Pắc Bó, phía Bắc tỉnh Cao Bằng, Bác Hồ cũng chọn Việt Bắc là nơi đặt căn cứ cách mạng.

"Sau khi thiết lập căn cứ ở Pắc Bó, Hồ Chí Minh bắt đầu dẫn dắt người của mình lên kế hoạch thành lập tổ chức Việt Minh và tiếp xúc với người dân khu vực để cho họ thấy việc giành độc lập cho Việt Nam là một mục tiêu thực tế, đáng để chiến đấu. Ông bắt đầu sáng tác các tuyên truyền để kêu gọi nhân dân như một phần chiến lược thúc đẩy và điều động người dân Việt Bắc", ông Rob Hurle viết.

Trên các số báo Việt Nam Độc Lập bắt đầu phát hành từ tháng 8/1941, Bác Hồ sử dụng rất nhiều biểu tượng thơ văn quan trọng nhằm hướng đến đồng bào và khán thính giả. Các câu ca dao xuất hiện thường xuyên, gần như trong mỗi số báo. Ví dụ như trong số báo thứ nhất có ca dao quen thuộc với mọi người Việt: Nhiễu điều phủ lấy giá gươngNgười trong một nước phải thương nhau cùng!

Bác Hồ cũng viết những câu thơ lục bát dễ đọc, dễ nhớ, dễ truyền miệng để kết nối với nhân dân, ví dụ bài thơ Ca sợi chỉ trong số báo ngày 1/4/1942:

Mẹ tôi là một đóa hoa,
Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.
Xưa tôi yếu ớt vô cùng,
Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời,

Khi tôi đã thành chỉ rồi,
Cũng còn yếu lắm ăn ngồi không ngon,
Mạnh gì sợi chỉ con con,
Khôn thiêng biết có vuông tròn cho chăng

Càng dài lại càng mỏng manh,
Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng!
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi đọc, sợi ngang rất nhiều,

Dệt nên tấm vải mỹ miều
Đã bền hơn lụa lại điều hơn da.
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang

***

Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,
Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau
Yêu nhau xin nhớ lời nhau,
Việt-Minh hội ấy mau mau phải vào

“Đoàn kết là sức mạnh” cũng là chủ đề thường thấy trong những bài thơ của Bác Hồ, nơi người sử dụng những giai thoại từ truyền thuyết lập nước - dòng dõi Hồng Bàng để nhấn mạnh nguồn gốc tổ tiên chung và từ đó, nhấn mạnh mục tiêu chung của toàn dân tộc, nhà nghiên cứu người Úc nhấn mạnh.

Tờ Việt Nam Độc Lập cũng đưa cả Tin Thế Giới - lúc đó còn là một điều xa xỉ, thường chỉ dành cho tầng lớp thượng lưu - đến với đại chúng.

"Đưa đến cho người đọc chủ yếu từ nông thôn những thông tin từ xa với những phân tích sắc bén về ảnh hưởng của những sự kiện quốc tế với cộng đồng, những thông tin mà một số khu vực thành thị cũng không có được, Việt Nam Độc Lập đã mở rộng tầm nhìn của những người dân vùng nông thôn Việt Bắc, khuyến khích họ hướng đến thế giới rộng lớn qua lũy tre làng, đồng thời đặt bản thân là một phần của đất nước Việt Nam với một tương lai độc lập, bình đằng như mọi lãnh thổ khác trên thế giới", ông Rob Hurle phân tích.

{keywords}
Hai trang đầu của cuốn sách Lịch sử Nước Ta.
Nguồn: Tham luận của TS. Rob Hurle

Năm 1942, Bác Hồ viết Lịch sử Nước Ta, một cuốn sách mỏng viết bằng tay trên giấy dó, với những bài thơ và hình vẽ thể hiện một cách dễ thuộc, dễ nhớ về các thời kỳ lịch sử của dân tộc. Cuốn sách đặc biệt tập trung vào Tây Sơn và nhà Trần, những thời kỳ có những người anh hùng đứng lên lãnh đạo người dân khởi nghĩa chống lại sự áp bức.

"Một chủ đề trọng tâm của cuốn sách lịch sử này là khởi nghĩa... Theo tôi, điều này rất có ý nghĩa và nó chứng tỏ rằng, một trong những mục đích của cuốn sách lịch sử này là khích lệ, vận động cho một cuộc khởi nghĩa khác nữa vào những năm 1940", nhà nghiên cứu người Úc nhận định. Ông Rob Hurle cũng lưu ý cuốn sách viết năm 1942 đã tiên đoán về sự kết thúc thắng lợi bằng việc giành được độc lập năm 1945.

{keywords}
Một bức tranh cổ động ở Lạng Sơn thực hiện khoảng năm 1947.
Nguồn: Tham luận của TS. Rob Hurle

Theo gương Bác Hồ, những bức vẽ cổ động trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng mang những hình ảnh điển hình của đời sống cộng đồng người Việt. Như hình ảnh quang gánh, thợ mộc trong bức tranh kêu gọi bãi công, bãi thị; hình ảnh bồ thóc, lợn gà trong bức tranh cổ động tăng gia sản xuất chống giặc đói; hình ảnh “thầy đồ cóc”, “i tờ” trong bức tranh cổ động học chữ diệt giặc dốt...

"Việc động viên, khuyến khích người dân vào bất kỳ hoạt động nào trong bất kỳ xã hội nào đều là công việc không dễ dàng, đòi hỏi một nghệ thuật, sự gắn kết, phối hợp và hiểu rất rõ về dân", nhà nghiên cứu người Úc tin rằng sự thành công của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc động viên, khuyến khích người dân Việt Bắc phần nhiều dựa trên kiến thức và sự hiểu biết sâu sắc của Người về nền văn hóa các cộng đồng dân cư nông thôn, cũng như sự cảm thông sâu sắc với nông dân và sự lựa chọn rất thông minh những tài liệu tuyên truyền có sức truyền cảm, hòa vào lòng dân.

Bài học cho những nhà lãnh đạo hôm nay chính là hãy cùng làm việc với người dân, ở nơi người dân đang sống và lắng nghe họ là một việc rất quan trọng. Việc Hồ Chí Minh làm là dạy lịch sử cho người dân từ chính những truyền thuyết, câu chuyện của từng thôn, từng làng nơi người dân đang sống và lao động, để họ nhìn thấy bản thân mình và cộng đồng mình trong bức tranh lớn của đất nước, dân tộc.

- TS. Rob Hurle, ĐHQH Australia -

Chung Hoàng