Ông có đưa ra khuyến nghị Chính phủ Việt Nam cần xây dựng và sử dụng cơ chế hợp tác với các tập đoàn công nghệ hàng đầu trên thế giới. Như vậy, các bên sẽ có những lợi ích gì, thưa ông? Ông có khuyến nghị gì để thúc đẩy thị trường này?

Tôi nghĩ rằng sự hợp tác giữa chính phủ Việt Nam với các nhà cung cấp giải pháp công nghệ lớn trên thế giới sẽ mang lại rất nhiều lợi ích. Việc thứ nhất đó là các nhà cung cấp lớn có nhiều kinh nghiệm, hoạt động ở nhiều quốc gia nên họ đã nhìn thấy những mô hình tương tự như Việt Nam. Họ có rất nhiều kinh nghiệm để chia sẻ với Việt Nam, giúp Việt Nam phát hiện ra những vấn đề tiềm ẩn để tránh không gặp phải và cũng có thể chia sẻ những xu thế phát triển hiện nay như một biện pháp cắt giảm chi phí, nâng cao năng suất làm việc. Họ cũng có thể chia sẻ khả năng đưa công nghệ đến với những người nghèo, những người dân ở vùng sâu vùng xa. Tôi cho rằng đó cũng là một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam.

Về quan điểm của tôi thì tôi thấy có 2 vấn đề lớn. Việt Nam chưa có các cơ chế ưu đãi tài năng, cơ chế ưu đãi về thuế để mọi người có thể tham gia vào lĩnh vực ICT tích cực hơn. Vấn đề thứ hai, để ICT phát triển thành công được thì bên cạnh việc phát triển hạ tầng, thì việc khuyến khích người sử dụng tham gia sử dụng sản phẩm cũng rất quan trọng.

Với tri thức sáng tạo và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình, Huawei sẵn sàng chia sẻ tri thức, kinh nghiệm, hợp tác cùng với Chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực ICT Việt Nam tài năng, cũng như xây dựng các chính sách thúc đẩy ứng dụng ICT và tạo ra một môi trường khuyến khích, phát huy sáng tạo cho cộng đồng

Phát triển nguồn nhân lực CNTT-TT (ICT) là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển và ứng dụng ICT tại Việt Nam. Thế nhưng, chất lượng nhân lực ICT ở Việt Nam rất hạn chế. Làm sao để nâng cao chất lượng nhân lực?

Tôi nghĩ phải tập trung phát triển tài năng từ thế hệ trẻ bởi họ lớn lên trong công nghệ và chắc chắn khi họ tham gia vào thị trường công nghệ thì họ cũng muốn sử dụng công nghệ trong môi trường làm việc. Huawei có thể hỗ trợ phát triển tài năng trong nước bằng cách hợp tác với các trường đại học, hỗ trợ những cơ chế như đóng học phí, tặng học bổng. Về mặt Chính phủ thì nên đưa ra những ưu đãi về thuế, khi mà được hỗ trợ về thuế thì giới trẻ cũng sẽ cảm thấy được động viên khích lệ hơn. Tôi nghĩ rằng phải tập trung những nhóm nhỏ các bạn trẻ ham mê công nghệ, tạo cho họ một môi trường thuận lợi, hỗ trợ họ về tư vấn, kinh nghiệm, cơ chế chính sách và cả tiền bạc. Một khi đã phát triển sản phẩm thì họ có thể kiểm nghiệm ở phạm vi nhỏ trước khi áp dụng trên phạm vi lớn. Đấy là cách mà chúng ta có thể nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Tôi nghĩ việc gửi sinh viên tài năng đi học tập và làm việc ở nước ngoài sau đó trở về là một ý hay nhưng mà chi phí rất đắt đỏ. Để khắc phục thì thay vì đưa sinh viên ra nước ngoài, chúng ta có thể có những chương trình hợp tác quốc tế giữa các trường Đại học trong nước và các trường Đại học nước ngoài. Có các mô hình là thay vì học toàn bộ ở nước ngoài thì sinh viên trong các chương trình liên kết học tập phần lớn trong nước và thực tập 2 tháng ở nước ngoài chẳng hạn để đạt được bằng cấp chứng chỉ quốc tế tương đương. Hoặc có thể sử dụng môi trường Internet, nó cũng là công cụ hữu ích thay vì phải cử người đi nước ngoài.

Nhiều doanh nghiệp của Việt Nam trước đây đặt kỳ vọng vào sản xuất phần cứng, nhưng giờ gần như biến mất. Theo ông, Việt Nam có cơ hội cho sản xuất phần cứng hay không?

Tôi nghĩ rằng 2 nền công nghiệp phần mềm và phần cứng phải song hành, bổ trợ cho nhau. Về phần cứng thì vấn đề ở đây là giá thành, nếu một sản phẩm được sản xuất ra cùng chất lượng với sản phẩm nước ngoài mà lại rẻ hơn thì chắc chắn được đón nhận. Nhưng rất tiếc là không nhiều nước làm được việc đó. Đấy chính là lý do mà hiện nay người ta chủ yếu tập trung phần cứng vào một số thị trường lớn, nơi có độ tập trung hóa cao độ, có giá thành thấp mà chất lượng cao. Đó là vấn đề mà không chỉ riêng Việt Nam gặp phải. Hơn nữa, tôi nghĩ Việt Nam đang tập trung vào lĩnh vực phần mềm (qua những bài phát biểu của các bạn). Thứ nhất, kỹ năng phần mềm cũng dễ hơn, đầu tư vào phần mềm cũng rẻ hơn, chỉ cần một cái laptop thôi mà không đòi hỏi một dây chuyền lớn. Do đó, theo tôi nghĩ tình trạng phần cứng èo uột không chỉ có ở Việt Nam và tập trung vào phần mềm là một định hướng đúng đắn.

Muốn trở thành nước mạnh CNTT thì Việt Nam phải có những "cú đấm thép" trong ngành. Ví dụ như Trung Quốc có Huawei và một số doanh nghiệp khác. Hiện nay ở Việt Nam thiếu các doanh nghiệp đủ tầm, vậy ông có thể chia sẻ kinh nghiệm để Việt Nam xây dựng những tập đoàn công nghệ mạnh?

Để học hỏi những mô hình nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực phần cứng thì rất khó bởi theo tôi đánh giá hiện nay, cơ hội cho người mới là không nhiều. Những doanh nghiệp hoạt động phần cứng hiện tại đều đã được 20, 30 năm tuổi nên họ sở hữu những cơ sở hạ tầng sẵn có để sản xuất ra những thiết bị với chất lượng tốt hơn và giá cả thấp hơn. Hơn nữa, những thiết bị phần cứng này phải thỏa mãn rất nhiều tiêu chuẩn khác nhau và để cho các công ty start-up (khởi nghiệp) có điều kiện đầu tư dây chuyền sản xuất, có khả năng sản xuất giá rẻ, đáp ứng tiêu chuẩn là gần như không thể. Việt Nam nên xác định xem mình mạnh ở điểm nào, không giỏi ở lĩnh vực nào và tăng cường thế mạnh với hướng đi riêng. Tôi cho rằng nếu học kiểu copy nước ngoài thì khó phát triển.

Cảm ơn ông!