Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là bệnh khớp mạn tính thường gặp nhất trong số các bệnh khớp viêm. VKDT gây mất chức năng vận động của khớp, khiến bệnh nhân nhanh chóng trở nên tàn phế với nhiều biến chứng, và ảnh hưởng đến tuổi thọ của bệnh nhân.

Giảm tuổi thọ vì viêm khớp dạng thấp


VKDT hiện được coi là bệnh tự miễn với nhiều yếu tố ảnh hưởng như môi trường, yếu tố cơ địa, di truyền, hoặc yếu tố hormon.

Biểu hiện đặc trưng là hiện tượng viêm các khớp ngoại biên, cụ thể là viêm màng hoạt dịch, dẫn đến hiện tượng hủy khớp, dính khớp. các khớp tổn thương thường là các khớp ở bàn tay, bàn chân, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân..., cả hai bên.

Tình trạng viêm khớp diễn biến kéo dài, có những đợt tiến triển cấp tính và có xu hướng tăng dần. Tuy nhiên, do chưa nhận thức đúng về bệnh, khi thấy đau khớp, người bệnh thường coi đó chỉ là các hiện tượng nhức mỏi khớp thông thường, do thời tiết, do lao động nặng... mà không đi khám để được phát hiện bệnh kịp thời. Chính điều này làm cho cơ hội có thể can thiệp điều trị nhằm bảo toàn chức năng vận động của khớp bị bỏ qua, khiến sụn khớp bị tổn thương, hiện tượng hủy xương dưới sụn gây dính khớp, biến dạng khớp không hồi phục, dẫn đến mất chức năng hoạt động của khớp.

PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Ngọc Lan (ngoài cùng bên phải) tại hội thảo Lựa chọn thuốc sinh học mới điều trị viêm khớp dạng thấp
Ngoài ra trong bệnh VKDT còn có các biểu hiện toàn thân (gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu) cũng như biểu hiện về tim mạch và nhiều cơ quan khác. Việc điều trị thuốc không đúng, đặc biệt là lạm dụng các thuốc điều trị triệu chứng như các chế phẩm có corticoid, khiến cho bệnh nhân có thể có rất nhiều tai biên (tổn thương dạ dày, tá tràng, tăng huyết áp, đái tháo đường, loãng xương, nhiễm khuẩn, suy thượng thận...).

Một số nghiên cứu cho thấy sau 5 năm bị bệnh chỉ 40% số bệnh nhân còn chức năng khớp bình thường, 16% bị mất chức năng nghiệm trọng. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ mất khả năng làm việc gặp ở 40 - 60% số bệnh nhân VKDT khi mắc bệnh trên 10 năm. Và đời sống của những bệnh nhân VKDT nặng thường bị rút ngắn khoảng 7 năm đối với người bệnh là nam giới và 4 năm đối với bệnh nhân nữ so với tuổi thọ trung bình của dân chúng.

Thuốc điều trị sinh học: hy vọng mới

Ngày nay, mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực và áp dụng nhiều thành tựu y học, bệnh VKDT vẫn là bệnh chưa thể điều trị khỏi hoàn toàn.

Trước đây các phương pháp điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng như giảm đau, giảm sưng khớp cho bệnh nhân. Những thuốc thường sử dụng cho mục đích này bao gồm hai nhóm chính là kháng viêm không steroid (thường gọi là NSAID, tức là các thuốc như Diclofenac, Ibuprofen, Meloxicam...) và nhóm steroid (hay corticoid).

Các nhóm thuốc này có ưu điểm là giảm đau và viêm tức thì giúp bệnh nhân cảm thấy giảm bệnh. Tuy nhiên, hai nhóm này không thực tế đạt được được sự lui bệnh hoàn toàn, các tổn thương khớp vẫn tiếp tục phát triển, theo dõi trên X-quang, bệnh vẫn thực sự đang tiến triển, và bệnh nhân sẽ dần dần trở nên tàn phế.

Với những trường hợp nặng, khi khớp mất chức năng, có thể phẫu thuật thay khớp nhân tao. Tuy nhiên cần lưu ý, phẫu thuật không làm thay đổi diễn tiến bệnh, đặc biệt trong bệnh VKDT có tổn thương rất nhiều khớp.

Cùng với sự tiến bộ khoa học, nhóm thuốc chống thấp khớp có thể cải thiện bệnh (được gọi là nhóm thuốc DMARDs- Disease-modifying antirheumatic drugs) trong đó có methotrexat được chỉ định ngay khi xác định chẩn đoán VKDT. Tuy vậy, hiệu quả của nhóm thuốc này chưa thực sự đủ mạnh để kiểm soát tất cả các trường hợp mắc bệnhVKDT.

Trong những năm gần các thuốc điều trị sinh học (Biological Therapy) đã tạo ra cuộc cách mạng trong việc điều trị bệnh nhân VKDT nhờ vào hiệu quả cao, tác dụng nhanh, và dung nạp tốt hơn.

Có rất nhiều thuốc thuộc nhóm này, tuy nhiên số thuốc được Bộ Y Tế cấp phép lưu hành tại Việt Nam không nhiều.

Trong số các thuốc điều trị sinh học, tocilizumab (biệt dược ACTEMRA®) là thuốc đầu tiên trong nhóm ức chế thụ thể IL-6 (một tín hiệu hóa học trong cơ thể chịu trách nhiệm thông tin đau và viêm hệ thống ở bệnh nhân VKDT). Actemra (tocilizumab) đã được phép điều trị VKDT tại châu Âu từ tháng 1/2009 và tại Hoa kỳ tháng 1/2010 và đã được chấp thuận lưu hành tại Việt Nam từ tháng 4/2011.

Tocilizumab ức chế thụ thể IL-6 và làm giảm tác động của IL-6 giúp ngăn tiến triển xấu của VKDT cả trên khớp và các triệu chứng toàn thân (thiếu máu, mệt mỏi...). Các nghiên cứu cho thấy tocilizumab giúp giảm nhanh triệu chứng, hiệu quả điều trị tăng theo thời gian, sự cải thiện chất lượng cuộc sống và tàn tật (đánh giá bằng bảng câu hỏi dành cho bệnh nhân) ghi nhận đuợc ở tuần thứ tư trở đi.

Như trên đã nêu, VKDT là một bệnh chưa được chữa khỏi hoàn toàn, và có một giai đoạn khi khớp chưa bị tổn thương, được coi là “cửa sổ cơ hội” để có thể can thiệp, phòng tránh các tổn thương hủy khớp, dính khớp, mất chức năng vận động của khớp.

Với với việc điều trị sớm bằng các thuốc như methotrexat kết hợp thuốc điều trị sinh học như Actemra (tocilizumab) sẽ giúp kiểm soát được bệnh, và đây là cách duy nhất để tránh tổn thương khớp không hồi phục, cải thiện triệu chứng, hạn chế tàn phế và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Các thuốc này nói chung khá an toàn nếu được theo dõi, quản lý tốt.

Trong mọi trường hợp người bệnh cần tuân thủ điều trị, tái khám đều đặn và kết hợp chặt chẽ với thầy thuốc. Actemra (tocilizumab) mang lại hy vọng mới cho bệnh nhân viêm khớp dạng thấp tại Việt Nam.

  • PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Ngọc Lan (Trưởng Khoa Cơ Xương Khớp, BV Bạch Mai)