ICT Index chẩn đoán toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam
![]() |
| Ông Nguyễn Long |
Hội Tin học TP.HCM (HCA) cũng vừa công bố Báo cáo Toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam, ông có thể cho biết xuất phát từ mục đích gì mà VAIP lại xây dựng chỉ số ICT Index?
Mục đích chính của việc xây dựng chỉ số này là nhằm góp phần trả lời câu hỏi “CNTT-TT của chúng ta đang ở đâu?”. Kết quả của chỉ số này sẽ là cơ sở cho việc đánh giá trình độ phát triển, sự thành công của các cơ chế chính sách hiện thời và làm cơ sở cho việc hoạch định các chiến lược phát triển trong tương lai của một đất nước, một vùng lãnh thổ, một ngành kinh tế hay một doanh nghiệp.
Có 60/64 tỉnh/thành, 26/28 bộ/ngành, 29/48 ngân hàng thương mại, 44/97 tổng công ty 90-91 gửi báo cáo tham gia ICT Index. ICT Index xếp hạng chung, và xếp hạng cụ thể từng chỉ số về hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng, sản xuất và kinh doanh, môi trường chính sách, và nguồn nhân lực của từng bộ/ngành, tỉnh/thành và các doanh nghiệp ứng dụng CNTT-TT; xếp hạng các tỉnh/thành theo từng khu vực và vùng kinh tế.
Mặc dù Việt Nam đã nhiều lần xuất hiện trong các báo cáo, các bảng xếp hạng về "Mức độ sẵn sàng điện tử", "Xã hội điện tử" v.v. của các tổ chức quốc tế, nhưng cho đến nay chưa có một báo cáo chính thức nào về thực trạng phát triển và ứng dụng CNTT-TT của Việt Nam, ngoài các báo cáo chuyên biệt như Toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam do HCA thực hiện hàng năm. Tuy nhiên, số liệu cho báo cáo của HCA được tổng hợp từ nguồn “quốc tế xếp hạng ta” và nhiều số liệu thống kê được lấy từ các nguồn không chính thức. Hơn nữa, tất cả các báo cáo này đều đánh giá thực trạng phát triển và ứng dụng CNTT-TT ở Việt Nam trên phạm vi chung chứ không đi vào đánh giá chi tiết cho từng loại đối tượng như các tỉnh thành, các bộ ngành và đặc biệt là các doanh nghiệp ứng dụng.
Vậy theo ông, kết quả của ICT Index này đã có thể trả lời được câu hỏi “CNTT-TT của chúng ta đang ở đâu?” không?
Chỉ số này đánh giá dựa trên số liệu báo cáo về các chỉ tiêu liên quan đến CNTT-TT của các đối tượng tham gia (tỉnh/thành, bộ/ngành, các ngân hàng, và các tổng công ty 90/91). Ý nghĩa tích cực nhất của ICT Index là giúp các đối tượng biết được mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT của mình so với các đối tượng khác trong cùng ngành, cùng lĩnh vực, cùng địa bàn. Đặc biệt, ICT Index còn chỉ rõ cho các đối tượng về mức độ sẵn sàng trong các mảng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng nhân lực, ứng dụng và môi trường chính sách, giúp họ thấy được mảng nào là mảng mình tốt nhất, kém nhất để khẳng định hướng đi đúng đối với mảng tốt, và tập trung cải thiện đối với mảng kém.
Về phía các cơ quan chính sách cũng có được bức tranh rõ hơn về thực trạng CNTT-TT, giúp họ xác nhận được chính xác hơn những cảm nhận lâu nay về ứng dụng và phát triển CNTT-TT nước nhà.
Trong buổi công bố chỉ số này tại Hội thảo “Hợp tác phát triển CNTT-TT Việt Nam” vừa diễn ra tại Thanh Hoá, có một số ý kiến băn khoăn về độ tin cậy kết quả đánh giá của ICT Index?
Về cơ bản số liệu của các đối tượng cung cấp là tin cậy. Tuy nhiên, do đây là lần đầu, nên các đối tượng còn lúng túng trong việc thu thập, tổng hợp số liệu. Qua đây có thể thấy rằng bản thân chúng ta chưa có ý thức tốt trong công tác thống kê tổng hợp và xây dựng các bộ số liệu phục vụ phát triển. Các đầu mối có trách nhiệm báo cáo còn thiếu thống nhất, ví dụ các tỉnh/thành có nơi do Sở BCVT báo cáo, có nơi lại do Văn phòng UBND tỉnh.
Sau khi nhận dữ liệu báo cáo, VAIP có biện pháp gì để kiểm chứng thông tin các đơn vị cung cấp?
VAIP đã thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để kiểm chứng, hiệu chỉnh các số liệu này. Ví dụ, khi kiểm tra, phát hiện sự thiếu hụt hoặc sự không hợp lý của số liệu, VAIP đã tiến hành liên hệ qua điện thoại và email với người thực hiện để xác minh, đề nghị bổ sung chỉnh sửa số liệu. Một biện pháp khác là làm việc trực tiếp với các nhà cung cấp dịch vụ hạ tầng như VNPT, Viettel, EVN Telecom, Hanoi Telecom, Saigon Postel… để trao đổi, làm rõ vấn đề. Kết quả thu được từ các nguồn này góp phần điều chỉnh các số liệu liên quan đến hạ tầng kỹ thuật và tình hình ứng dụng CNTT-TT của các tỉnh/thành. Ngoài ra, thông qua các nguồn thông tin chính thức có thể như: niên giám thống kê, số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê; trang web của các tỉnh/thành, bộ/ngành. Trong một số ít trường hợp, VAIP đã sử dụng giá trị trung bình của toàn bộ các đối tượng điều tra để bổ sung, điều chỉnh số liệu còn thiếu hoặc quá bất hợp lý.
TP.HCM, Hà Nội và Đà Nẵng đứng đầu trong xếp hạng chung của ICT Index thì không có gì đáng nói, nhưng việc hai tỉnh miền núi Lâm Đồng và Lào Cai chiếm vị trí khá cao trong chỉ số lần này có thể coi là bất ngờ?
Ba điểm khác giữa ICT Index và Báo cáo toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam: • ICT Index đánh giá mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT của các đối tượng ở quy mô nhỏ hơn (các tỉnh, thành, bộ ngành, các DN...), còn Báo cáo toàn cảnh nêu các số liệu, đánh giá cho toàn quốc gia. • Báo cáo toàn cảnh dựa chủ yếu trên các kết quả đánh giá của nước ngoài; ICT Index dựa trên các số liệu của Việt Nam tự thu thập thông qua các nguồn tin cậy. • Báo cáo toàn cảnh là bức ảnh chụp thực trạng CNTT-TT của Việt Nam (do nước ngoài thực hiện). ICT Index là bức vẽ phác thảo thực trạng CNTT-TT của Việt Nam thông qua các đối tượng khác nhau. |
Với việc Lâm Đồng và Lào Cai đứng cao trên bảng xếp hạng, phải chăng chỉ số ICT Index của các địa phương phụ thuộc nhiều vào chính sách, sự quan tâm của lãnh đạo địa phương đó. Hay nói một cách khác là môi trường chính sách đã có tác động tích cực đến “mức độ sẵn sàng điện tử”?
Về lý thuyết thì phải như vậy nhưng thực tế lại không đúng như vậy. Trong tốp 5 tỉnh đứng đầu về môi trường chính sách không có tỉnh nào nằm trong tốp 10 của bảng xếp hạng chung. Và hầu hết các đối tượng (kể cả các bộ ngành) có thứ hạng cao trong bảng xếp hạng chung đều có thứ hạng không cao trong bảng xếp hạng về môi trường chính sách. Điều này có vẻ là nghịch lý, nhưng thực chất nó lại nói lên một chân lý khác, đó là: môi trường chính sách do chúng ta tạo ra hình như chưa thực sự hiệu quả; các chiến lược, chính sách đề ra chưa phù hợp, mang nặng tính duy ý chí (mà cụ thể là việc đánh giá thực trạng và dự báo chiến lược đều được làm hết sức sơ sài, không khoa học) nên kết quả là chưa tạo ra được môi trường thực sự thuận lợi cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT.
Với các bộ, ngành, việc Bộ Thương mại vượt qua Bộ Tài chính và bộ chuyên ngành về CNTT-TT là Bộ BCVT cũng theo lôgic tương tự như hiện tượng Lâm Đồng và Lào Cai?
Vị trí số 1 của Bộ Thương mại là kết quả của sự quan tâm, tập trung đầu tư mạnh mẽ cho ứng dụng CNTT của Bộ này trong vài năm qua. Đặc biệt do yêu cầu hội nhập kinh tế mạnh mẽ nên trong những năm vừa qua Bộ Thương mại đã đầu tư nhiều cho CNTT để hỗ trợ các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước, điển hình là hệ thống ELVIS (tra cứu thông tin trực tuyến về quota dệt may vào thị trường Mỹ. Bộ Thương mại cũng có hệ thống các thương vụ nằm ở nước ngoài sử dụng CNTT rất tích cực trong các hoạt động của mình. Ngoài ra, việc vươn lên vị trí số 1 của Bộ Thương mại (so với thứ 7 của lần đánh giá thử nghiệm 2003) cũng là một minh chứng cho ý nghĩa tích cực của ICT Index. Tại Lễ công bố ICT Index năm 2004, Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển đã nhắc nhở các cán bộ của mình phải cố gắng hết sức để cải thiện vị trí của bộ trong bảng xếp hạng CNTT-TT.
Theo ông, ngoài ý nghĩa thấy được thực trạng ứng dụng và phát triển CNTT-TT, các đối tượng tham gia có thể rút ra bài học gì cho mình trong hoạt động liên quan đến CNTT-TT?
Qua việc thu thập và đánh giá các số liệu mà các đối tượng cung cấp, tôi cho rằng chúng ta cần quan tâm hơn tới công tác thu thập, thống kê số liệu liên quan đến CNTT-TT nói riêng và tất cả các lĩnh vực khác nói chung.
Xin cảm ơn ông!
Đỗ Duy
thực hiện
