
Sáng 24/8, Quốc hội thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) với 94,2% đại biểu tán thành.
Luật quy định nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở; hòa giải viên, tổ hòa giải, người được mời tham gia hòa giải, các bên trong hòa giải ở cơ sở; hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hòa giải ở cơ sở.
Luật không áp dụng đối với hoạt động hòa giải của tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động, hòa giải tại UBND xã, phường, đặc khu.
Trước khi Quốc hội biểu quyết, Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng thay mặt Chính phủ trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật.
Bộ trưởng Tư pháp cho hay, trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã nghiên cứu tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật. Trong đó, về bảo mật thông tin trong hòa giải ở cơ sở, dự thảo luật bổ sung 1 điều mới (Điều 5) quy định về bảo mật thông tin trong hòa giải ở cơ sở như thể hiện trong dự thảo luật.

Về tiêu chuẩn của hòa giải viên (Điều 8), dự thảo luật lược bỏ từ “thường xuyên” trong cụm từ “cư trú thường xuyên tại cơ sở” nhằm mở rộng phạm vi người được lựa chọn vào danh sách bầu hòa giải viên và bảo đảm thống nhất với Luật Cư trú; đồng thời, bổ sung tiêu chuẩn “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”.
Về trách nhiệm quản lý nhà nước trong hòa giải ở cơ sở, dự thảo luật được chỉnh lý theo hướng không quy định cụ thể nội dung quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở mà giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, đồng thời bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với yêu cầu tổ chức bộ máy và phân công, phân cấp trong từng giai đoạn.
Bảo mật thông tin trong hòa giải
Một trong những nội dung được bổ sung vào luật là có điều riêng về bảo mật thông tin trong hòa giải ở cơ sở.
Hòa giải viên, các bên, người được mời tham gia hòa giải... có trách nhiệm giữ bí mật nhà nước, bí mật thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh của các bên và thông tin khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Trong quá trình hòa giải, không được ghi âm, ghi hình; hòa giải viên, các bên chỉ được ghi chép để phục vụ cho việc hòa giải và phải bảo mật nội dung đã ghi chép, trừ trường hợp các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Luật cũng xác định hòa giải phải tôn trọng sự tự nguyện, không bắt buộc hoặc áp đặt các bên; bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình. Hoạt động hòa giải phải tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, không xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Các bên có quyền yêu cầu quá trình hòa giải được tiến hành công khai hoặc không công khai; lựa chọn, đề xuất hay đề nghị thay đổi hòa giải viên, người được mời tham gia và người phiên dịch. Họ cũng có thể đồng ý hoặc từ chối hòa giải, yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt quá trình này.
Luật bổ sung trách nhiệm phối hợp thực hiện các biện pháp phòng ngừa khi hòa giải viên nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn tới hành vi bạo lực, ảnh hưởng sức khỏe, tính mạng của các bên hoặc người tham gia hòa giải, hay gây mất trật tự công cộng.
Hòa giải viên được đề nghị UBND hoặc công an cấp xã bảo đảm an ninh, trật tự khi tiến hành hòa giải, đồng thời phải thông báo kịp thời cho tổ trưởng tổ hòa giải.
